VIỆT NAM VỠ NỢ... AI SẼ GÁNH?

19 Tháng Mười Hai 201512:00 SA(Xem: 5060)
VIỆT NAM VỠ NỢ... AI SẼ GÁNH?

Gần đây mọi người xôn xao chuyện hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu không còn khả năng tài chính để chi trả lương công nhân viên chức. Nhiều người hỏi: “Vậy nếu việc này tạo thành hiệu ứng domino lan khắp cả nước, thì chuyện gì sẽ xảy ra? Có phải Việt Nam sẽ vỡ nợ? Vậy người dân VN sẽ ra sao?”

 Tôi chỉ biết thở dài với họ: “…Dân Việt đã thờ ơ và né tránh chuyện chính trị, giao phó cuộc sống của mình cho đảng và nhà nước nên hậu quả từ cuộc khủng hoảng này người dân phải tự gánh thôi.”

 Nợ công của Việt Nam đã tăng hơn 4 lần trong một thập niên, hiện nay theo Bộ Kế hoạch Đầu tư, nợ công của chính phủ là 66.4% GDP của đất nước, còn Bộ Tài chính thì báo cáo chỉ có 59.6% tính đến hết năm 2014. Phải chăng nợ công của Việt Nam đã rơi vào tình trạng nguy hiểm vượt trần cho phép 65% và khả năng trả nợ rất khó khăn?

 Nguy cơ Việt Nam vỡ nợ?

 Với một bộ máy, cồng kềnh như của Việt Nam mà ngay đại biểu Quốc hội cũng nói là, rất nhiều tổ chức cùng song hành như tổ chức đảng, tổ chức chính quyền, tổ chức các đoàn thể và tất cả đều ăn lương nhà nước, trong khi đó năng suất lao động thì thấp, đây là sự nguy hiểm. Ở Quảng Ninh đã thí điểm nhất thể hóa giữa cơ quan Đảng với cơ quan Chính quyền.

 Người ta thấy vấn đề đó nhưng họ không triển khai, không thực hiện và với một bộ máy cồng kềnh lớn như hiện nay thì không có một nguồn ngân sách nào có thể kham nổi, đủ nuôi nổi bộ máy như vậy. Chắc chắn với việc đầu tư, trong khi phải nuôi bộ máy quá lớn như vậy thì tiền phát triển cho đầu tư, mà chính nguồn này mới là để trả nợ, không được coi trọng, không đúng thì mức nợ tăng cao và nguồn thu để trả mức nợ đó lại không có, hạn hẹp. Chưa kể sự tham nhũng, đồng tiền công bị dùng cho lợi ích riêng, nên nợ ngày càng tăng nhưng không có khả năng chi trả. Cuối cùng có dẫn tới vỡ nợ thì cũng là chuyện bình thường.

 Khi quốc gia vỡ nợ, giải quyết như thế nào

 Khi một quốc gia vỡ nợ, họ thường làm 1 hoặc tất cả trong 4 việc như sau: 

 1. In tiền trả nợ.

 2. Tăng các loại thuế phí.

 3. Cắt giảm ngân sách nhà nước.

 4. Vay thêm (trái phiếu: ở trong hoặc ngoài nước bằng nội hoặc ngoại tệ)

 1. In tiền.

 12_viet_nam_v_no-content Thường đây sẽ là phương pháp cuối cùng vì việc này sẽ gây ra hiện tượng lạm phát. Điều này có thể dẫn đến sự mất cân bằng kéo dài và thất nghiệp cao trong thị trường lao động. Vì lạm phát cho phép tiền lương thực tế giảm ngay cả khi tiền lương danh nghĩa được giữ không đổi. Có nghĩa là 1 ngày bạn có thể mua được 5kg gạo, nhưng nay chỉ có thể mua 3kg mà thôi.

 2. Tăng các loại thuế phí.

 Khi tăng các loại thuế phí, thì người chịu ảnh hưởng đầu tiên sẽ là tầng lớp lao động nghèo, sau đó đến các doanh nghiệp, khi thuế phí tăng cao dẫn đến không đủ khả năng chi trả cho nhân viên v.v… đời sống nhân dân sẽ khó khăn hơn rất nhiều.

 3. Cắt giảm ngân sách.

 Ngân sách dùng cho Giáo dục, y tế, đèn đường trường trạm sẽ được giảm xuống, chất lượng cũng vì đó giảm theo. Hệ quả của nó là gì thì ai cũng biết rồi.

 4. Vay thêm (trái phiếu – vay trực tiếp nước ngoài)

 Việc chính phủ tăng cường phát hành thêm trái phiếu trên thị trường nội địa và quốc tế là một việc bình thường. Nó không có vấn đề gì nếu uy tín tín dụng của người vay nợ được thị trường đánh giá cao. Nhưng uy tín tín dụng của Việt Nam thuộc loại thấp. Moody xếp uy tín Việt Nam trong lớp B1, có nguy cơ vỡ nợ cao, và nhà đầu tư chỉ nên bỏ tiền như một thương vụ đầu cơ.

 Để bù đắp cho uy tín xấu, khi vay, chính phủ Việt Nam phải trả lãi suất cao hơn mức bình thường để bù đắp cho mức rủi ro mà các nhà đầu tư phải gánh chịu. Điều này có nghĩa là Việt Nam phải trả thêm tiền để được vay so với những nước khác. Vậy Việt Nam có thể duy trì được bao lâu? Các nhà đầu tư thế giới có kiên nhẫn và tin tưởng Việt Nam để tiếp tục cho vay vô tội vạ? Sẽ đến một lúc nào đó thị trường tài chính thế giới sẽ từ chối trái phiếu Việt Nam. Với uy tín tín dụng gần áp chót thì đây là điều hiển nhiên và dễ hiểu.

 Còn xét một mặt dài hạn thì đây là một cách mang nhiều rủi ro bởi lẽ khi lãi suất tăng quá cao, chính phủ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc trả nợ. Vậy khi chính phủ khó có khả năng chi trả nợ, doanh nghiệp nào muốn đầu tư vào trái phiếu đó?

Trầm trọng hơn, các doanh nghiệp và cá nhân cũng khó vay vốn trên thị trường quốc tế. Khi một nền kinh tế vỡ nợ, tức là họ đã đóng cửa và phải dựa vào bản thân. Nếu hệ thống tài chính quá phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài, đất nước đó sẽ gặp rắc rối. Vì khi hệ thống đó bất chợt hết tiền, cả nền kinh tế sẽ lao đao theo.

 Lời kết

 “Vấn đề với chủ nghĩa xã hội là đến một lúc nào đó, nó sẽ tiêu hết tiền của người khác.” Chưa bao giờ câu nói này của bà Margaret Thatcher lại đúng đến vậy. Việt Nam hay bất cứ một quốc gia nào khác, không thể nào tiếp tục dùng tiền vay một cách vô tội vạ mà không vỡ nợ. Cũng như một người đi vay tiền để tiêu xài, đến một lúc nào đó ngân hàng sẽ đến đòi nợ và họ sẽ phải gánh chịu hậu quả của việc tiêu tiền vô trách nhiệm của mình. Sẽ đến một lúc nào đó các nhà đầu tư thế giới sẽ từ chối cho Việt Nam vay. Lúc đó người phải gánh hậu quả của việc tiêu tiền hoang phí đó là người dân VN.

 Bạn có thể không quan tâm đến chính trị, không quan tâm đến tình hình đất nước, nhưng không có nghĩa là bạn sẽ không chịu những hậu quả của việc đó.

 Biên tập & bổ sung: Ku Búa


KÍNH MỜI QUÝ VỊ BẤM VÀO HÀNG CHỮ NÀY ĐỂ ĐỌC TRỌN BNS TỰ DO NGÔN LUẬN SỐ 233( 15.12.2015)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Mười Một 2018(Xem: 128)
Rốt cuộc, giới phân tích kinh tế-chính trị cùng rất nhiều người đặc biệt theo dõi sự tồn vong hàng năm của chế độ Trung Cộng cũng đã có được một bằng chứng – dù nhỏ bé nhưng có giá trị, mà từ đó có thể bổ sung cho những dự đoán về khoảng thời gian chính thể này có thể sẽ cáo chung. Đầu tháng 10-2018, tờ The New York Times International của Mỹ đã có được trong tay một chỉ thị của chính phủ Trung Quốc gửi cho các nhà báo ở nước này ngay tuần trước đó – quy định rõ 6 chủ đề kinh tế cần phải được “quản lý.” Trong bài “Trung Quốc kiểm duyệt các tin tức thất lợi về kinh tế,” The New York Times International đã công khai 6 chủ đề đó, bao gồm:
11 Tháng Mười Một 2018(Xem: 134)
Linh mục Anton Đặng Hữu Nam cho hay bị một thành viên Hội Cờ đỏ nhiều lần dọa giết trong khi lãnh đạo xã phủ định điều này. Sự việc vị linh mục kêu cứu do bị dọa giết đã ồn ào trên mạng xã hội vài ngày nay. "Ông Lê Đình Thọ, Hội trưởng Hội Cờ đỏ xóm Quỳnh Khôi đã ba lần đột nhập vào nhà thờ Giáo xứ Mỹ Khánh, xã Khánh Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An, nơi tôi đang quản nhiệm, đe dọa giết tôi", linh mục Anton Đặng Hữu Nam nói với BBC hôm 24/10.
11 Tháng Mười Một 2018(Xem: 145)
Đây là câu chuyện của người H’Mông Việt Nam bị giam giữ tại Trung tâm Giam giữ Di dân (IDC) Suan Phlu ở Bangkok, Thái Lan. Câu chuyện dựa trên lời kể lại từ lá thư gửi Cao ủy nhân quyền Liên Hiệp Quốc (UNHCR) của tù nhân và lời kể của vợ của anh. Trong một căn phòng nhỏ chật chội, ở một khu phố nhỏ nghèo của Bangkok, Vue Chor kể lại lý do vì sao gia đình chị lại lưu lạc sang Thái Lan gần 10 năm qua, và vì sao chồng chị vẫn ở đằng sau song sắt trại tạm giam.
11 Tháng Mười Một 2018(Xem: 151)
Nguyên tiêu đề: Hãy cầu nguyện cho người Thượng bị lãng quên của Việt Nam. Sự đàn áp của chế độ Cộng sản đối với dân tộc thiểu số ủng hộ Hoa Kỳ trong Chiến tranh VN phần lớn là không thể nhận thấy được nhưng đang bắt đầu được biết đến Hãy bắt đầu với một lời thú nhận. Khi tôi là một phóng viên chiến tranh ở Việt Nam vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, tôi đã không ủng hộ “báo chí nhảy dù.” Đó là chuyến đi thực tế vào vùng chiến bằng trực thăng và ở lại đó một hoặc hai ngày để cảm nhận tình hình và rồi quay trở lại Sài Gòn để viết một bài báo.
11 Tháng Mười Một 2018(Xem: 122)
Báo chí vừa đưa tin, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra kết luận về ông Chu Hảo và đề nghị kỷ luật ông. Lão Mà Chưa An tuyên bố như sau: Phó Giáo sư Tiến sĩ khoa học Chu Hảo là một trí thức lớn của Việt Nam. Ông là một nhà khoa học tài ba trong lĩnh vực vật lý kỹ thuật. Ông đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng các viện nghiên cứu vật lý và khoa học hàng đầu của Việt Nam. Với tư cách Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, ông đã có những đóng góp to lớn vào việc hoạch định chính sách khoa học công nghệ, nhất là công nghệ truyền thông thông tin (ICT) ở Việt Nam,