TÔN NỮ THỊ NINH ĐẠI BIỂU XUẤT SẮC CỦA TRÍ THỨC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

28 Tháng Sáu 20168:35 SA(Xem: 1616)
TÔN NỮ THỊ NINH ĐẠI BIỂU XUẤT SẮC CỦA TRÍ THỨC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Khi phê bình đảng CS, có người mạnh miệng nhận xét: “Đảng CS thực tế chỉ là một đảng Mafia”. Ý nói đảng CS chỉ là tổ chức tội ác giết người cướp của trên một tầm vóc quốc gia chứ chẳng còn ý thức hệ CS như thời Liên Xô chưa tan rã. Thật ra, nói vậy không đúng và nếu có cũng chỉ một góc cạnh “giết người cướp của”. Nếu đảng CS là đảng Mafia thì đã sụp đổ lâu rồi.

     Định nghĩa đúng nhất cho trường hợp chế độ CS Trung Cộng và VN là định nghĩa của giáo sư sử học Roderick Macfarquhar, thuộc đại học Harvard khi ông gọi là chủ nghĩa CS hiện nay là một loại chủ nghĩa Lenin không có Marx.

     Chủ nghĩa Lenin do hai bộ phận cấu thành: (1) một nhà nước chuyên chính sắt máu và (2) tuyên truyền lý luận tư tưởng tinh vi.

     Bộ phận nhà nước chuyên chính rất rõ nét và gần như ai cũng thấy, nhưng đảng CS không tồn tại chỉ bằng nhà tù sân bắn mà còn được che chở bằng một hàng rào lý luận tuyên truyền vô cùng tinh vi thâm độc. Tuyên truyền là cột xương sống của chế độ CS. Như người viết đã có dịp trình bày trong những bài trước, sau cách mạng CS Nga 1917, công việc đầu tiên Lenin là thành lập cơ quan tuyên truyền Agitprop và trong giai đoạn đầu còn do chính ông ta đích thân lãnh đạo. Tại Trung Cộng cũng vậy, trong đại hội đảng CS Trung Quốc lần đầu vào năm 1921 chỉ bầu ra vỏn vẹn ba ủy viên trung ương nhưng một trong ba ủy viên đó chịu trách nhiệm tuyên truyền.

     Tầng lớp “trí thức xã hội chủ nghĩa”

     Bộ máy tuyên truyền sẽ không chạy được nếu thiếu đi một tầng lớp có học, có địa vị xã hội tự nguyện làm xăng nhớt. Thành phần đó gọi chung là “trí thức xã hội chủ nghĩa”.

            Trước khi viết tiếp, người viết xin dừng lại ở đây để bày tỏ lòng biết ơn dành cho những trí thức chân chính và xứng đáng được kính trọng. Họ là những người có trình độ văn hóa giáo dục cao, những văn nghệ sĩ đang công khai hay 

âm thầm tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, tốt đẹp, tự do và dân chủ trong điều kiện và hoàn cảnh riêng của họ. Họ không thuộc thành phần mà người viết sắp bàn.

     Thành phần “trí thức xã hội chủ nghĩa” chia sẻ ba đặc điểm chung: (1) có học, khoa bảng (2) chủ nghĩa cơ hội, (3) bồi bút, uốn lưỡi bảo vệ đảng trung thành. Một đại biểu xuất sắc trong tầng lớp này và có đủ ba đặc điểm vừa nêu là bà Tôn Nữ Thị Ninh.

     Bà Tôn Nữ Thị Ninh thỏa mãn đặc điểm thứ nhất dễ dàng vì bà thuộc thành phần khoa bảng, mang họ hoàng tộc. Phần lớn thời tuổi trẻ của bà lớn lên dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa và được đi du học tại các trường nổi tiếng tại Pháp, Anh. Bà về nước dạy đại học Sư phạm SG và từng là Phó ban Anh ngữ của trường.

     Trong thời gian ở Pháp, bà Ninh quen biết các thành viên của phái đoàn CS “Chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” và phụ giúp công việc phiên dịch tại những buổi gặp gỡ không chính thức của họ. Như bà kể lại trong bài báo “Paris: ‘Vườn ươm’ lực lượng”, bà “không được chứng kiến các cuộc đàm phán chính thức”, phần lớn những gặp gỡ đều qua trung gian của các “hội yêu nước” và được bà Nguyễn Thị Chơn, vợ ông Trần Bạch Đằng, “bồi dưỡng chính trị”. Thành phần có học nhưng bị lá bùa “độc lập, tự do” của CS mê hoặc tại Pháp thời đó rất nhiều như bà thừa nhận với phóng viên Hoàng Thi trên báo Nhân Dân: “Tại Pháp, tôi đã tham gia phong trào phản chiến đang diễn ra rất sôi nổi nơi đây”.

     Sau 30-4-1975, bà Tôn Nữ Thị Ninh cũng chỉ sinh hoạt trong “Hội trí thức yêu nước” như phần lớn các nhà giáo, văn nghệ sĩ thuộc “thành phần thứ ba” ở Sài Gòn như Lý Quí Chung, giáo sư Trần Văn Tấn, giáo sư Trần Phước Đường, nữ nghệ sĩ Phùng Há, nhà báo Tô Nguyệt Đình, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba chứ không đóng vai trò gì quan trọng. Thành phần này, trong đó có bà, được đảng thưởng công bằng chuyến “tham quan” các nước CS như Lý Quí Chung kể lại trong hồi ký của ông ta.

     Đường công danh dưới chế độ CS của bà Ninh chỉ thật sự bắt đầu khi tình cờ gặp ông Xuân Thủy năm 1978. Từ đó, trong giai đoạn giao thời đảng đang cần người có khả năng giao tiếp với thế giới mà họ chưa từng biết qua, và bà nắm lấy cơ hội. Không giống như những người CS theo đuổi mục đích CS, vào tù ra khám hiến thân cho canh bạc của cuộc đời họ, bà chỉ là một kẻ cơ hội chủ nghĩa.

     Hai đặc điểm, khoa bảng và chủ nghĩa cơ hội nói trên, dù không mấy tốt đẹp, cũng chỉ có tính cách cá nhân và không phải là tội ác. Đặc điểm bồi bút trung thành và uốn cong ba tấc lưỡi để bảo vệ đảng CS của bà Ninh mới thật sự là một tội ác trí thức vì đã gây tác hại đến nhiều người. Dưới đây là vài ví dụ chứng minh bà Ninh bẻ cong ngòi bút.

     Bà Tôn Nữ Thị Ninh và nguyên tắc dân chủ kiểm soát và cân bằng (checks and balances)

     Trong Tạp Chí CS số tháng 6-2007, bà Tôn Nữ Thị Ninh viết về tình trạng tham nhũng tại Việt Nam: “Cần có một cơ chế “đối trọng” (phương Tây gọi cơ chế này là checks and balances). Đối trọng của ta là trong phạm vi chế độ, là sự kiểm tra giám sát của các đoàn thể quần chúng, chứ không phải là đối trọng về chính trị. Quốc hội có vai trò, tư pháp cũng phải độc lập, đoàn thể phải vào cuộc, nếu không hệ thống chính trị của ta sẽ không có cơ chế tự điều tiết.”

     Hẳn nhiên, với trình độ giáo dục cao và tiếp cận nhiều với sinh hoạt chính trị dân chủ Âu Châu trước đây, bà Ninh biết rõ khái niệm kiểm soát và cân bằng (checks and balances) nhằm sự kiểm soát lẫn nhau để giữ sự cân bằng và công bằng giữa các ngành trong các chế độ dân chủ pháp trị. Nguyên tắc này ra đời nhằm giới hạn quyền hành của chính phủ (hành pháp) thường rất dễ bị lạm dụng. Sự đối trọng giữa các ngành trong cơ chế chính trị chỉ hữu hiệu khi các ngành đó có được sự độc lập về quyền hạn và trách nhiệm. 1 sinh viên lấy lớp chính trị học nhập môn cũng nắm vững định nghĩa căn bản đó.
     Thế nhưng bà uốn cong định nghĩa “checks and balances” giữa các ngành trong chế độ dân chủ pháp trị thành một khái niệm giữa quần chúng (không có tiếng nói) và nhà nước (nắm hết quyền lực). Tại VN, ai đối trọng với ai, ai kiểm soát ai và ai cho phép tạo nên sự cân bằng quyền lực trong hệ thống chính trị bị chỉ đạo bởi một đảng duy nhất là đảng CS?

     Một người có hiểu biết căn bản nào cũng trả lời được: dưới chế độ CS, không ai, không một tập thể, không một thành phần nhân dân nào đứng trên quyền lực của đảng CS. Thời gian 2006 bà Ninh là “Đại biểu Quốc hội” đơn vị Vũng Tàu và hơn ai hết bà biết chức “Đại biểu Quốc hội” của bà chẳng phải do người dân Vũng Tàu nào tự nguyện bầu bà lên mà chỉ là hư danh do đảng CS trả công cho bà.

  4-ton-nu   Bà Tôn Nữ Thị Ninh chống đối Bob Kerrey

     Theo phóng sự điều tra của Gregory L. Vistica trên New York Times phát hành ngày 25-04-2001, vào đêm 25-02-1969, đội SEALs (đơn vị đột kích tinh nhuệ của hải quân Mỹ viết tắt của chữ Sea, Air and Land Teams) dưới quyền chỉ huy của trung úy Bob Kerrey, 25 tuổi, tiến vào làng Thạnh Phong, Bến Tre, với mục đích tiêu diệt một phiên họp của Việt Cộng với sự tham gia của một lãnh đạo quân sự. Sau khi thanh toán mục tiêu thứ nhất bằng dao để khỏi lộ mục tiêu, đơn vị SEALs bị trong làng bắn ra. Với tin tức tình báo nhận được, đội SEALs đinh ninh một phiên họp của lãnh đạo CS cao cấp đang diễn ra và đã bắn trả quyết liệt. Đừng quên, lúc đó đã sau 9 giờ tối trong một đêm không trăng tại ngôi một làng hẻo lánh tối tăm chứ không phải trưa ban ngày giữa đồng rộng hay đường lớn để có thể nhận diện dễ dàng. Bob Kerrey kể lại ông ta không thấy ai hết. Khi phản công chấm dứt, toán SEALs tiến vào các chòi lá và hình ảnh mà Bob Kerrey sẽ nhớ đến giờ chết là không có một chỉ huy Việt Cộng nào mà chỉ toàn là thường dân, đàn bà và trẻ con bị giết. Tuy nhiên, Gerhard Klann, một đội viên SEALs dưới quyền Kerrey, kể khác rằng trong chòi lá thứ nhất không chỉ có đàn ông mà còn có đàn bà và trẻ em, và chính Bob Kerrey không những ra lịnh mà còn tham gia vào việc giết những người trong chòi lá thứ nhất. Lời kể của Klann trùng hợp với kể của nhân chứng Việt Nam Pham Tri Lanh. Bob Kerrey không đồng ý với Klann nhưng nhận lỗi lầm với tư cách chỉ huy. Các đội viên khác có người ủng hộ lời kể của Bob Kerrey và có người từ chối trả lời. Nói chung các lời kể rất rời rạc, trước sau không thống nhất. Kerrey nhắc lại nhiệm vụ chính của các toán SEALs là tiêu diệt một mục tiêu được giao phó và nhiệm vụ của đội SEALs vào làng Thạnh Phong đêm đó là tiêu diệt chứ không phải bắt tù binh.

     Sau khi bị thương và giải ngũ về nhà, Kerrey kể lại thảm sát Thạnh Phong cho mẹ nghe và mẹ ông ta khóc.

     Với nhiều người khác, biến cố là một tai nạn giết lầm, đổ thừa cho tình báo, cho cấp chỉ huy, cho chiến tranh và rồi ăn ngon ngủ kỹ. Nhưng với Bob Kerrey, lương tâm ông bị cắn rứt và đã làm rất nhiều trong lãnh vực giáo dục để xoa dịu vết thương giữa hai dân tộc cũng như đau đớn tinh thần của riêng ông. Với kinh nghiệm chín năm làm chủ tịch của New School University ở New York, ông hy vọng sẽ áp dụng những vốn liếng đó vào việc lãnh đạo Fulbright University Viet nam và nâng trường lên đẳng cấp quốc tế. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cũng nhấn mạnh yếu tố chuyên môn kết hợp với tình cảm cá nhân trong diễn văn đầy tinh thần hòa giải của ông khi giới thiệu Fulbright Vietnam. Bob Kerrey với kinh nghiệm lâu năm trong ngành giáo dục, một cựu Thượng Nghị sĩ, cựu ứng cử viên tổng thống, nhà chính trị có quan hệ rộng rãi với chính giới Hoa Kỳ và gắn bó tinh thần với VN xứng đáng để lãnh đạo Fulbright University Vietnam.

     Thay vì thuận theo tinh thần hòa giải được khơi dậy trong diễn văn của Ngoại trưởng John Kerry và mở rộng hơn cánh cửa giáo dục cho các thế hệ Việt Nam, máu cơ hội “chống Mỹ cứu nước” trong bà Tôn Nữ Thị Ninh sôi sục lên và bà phán: “Ông Bob Kerrey là người đã trực tiếp tham gia vào cuộc thảm sát thường dân vô tội, phụ nữ, trẻ em, người già tại thôn Thạnh Phong vào tháng 2-1969. Điều này không thể chối cãi và chính ông Kerrey cũng thừa nhận. Có thể nhìn nhận vấn đề ở nhiều mức độ khác nhau, cả phía Việt Nam và phía Mỹ. Nhưng một điều chắc chắn, sự việc đó là đủ để kết luận Bob Kerrey, nói theo cách nhẹ nhất, hoàn toàn không thể giữ vị trí Chủ tịch Đại học Ful-bright VN. Và cũng không thể nhân danh tương lai mà bỏ qua sự thật đó”.

     Khi nhắc đến câu “không thể nhân danh tương lai mà bỏ qua sự thật”, không biết bà có nhìn quanh thử mình đang sống ở đâu không. Bà đang sống trong một đất nước mà nơi đó sự thật chỉ là chiếc bánh tuyên truyền rẻ tiền và hư thối đến nỗi một đứa bé đói khát cũng không thèm cầm lấy. Chắc bà không lạ gì những nhãn hiệu “Nhà xuất bản Sự Thật”, “báo Sự Thật” v.v…

     Nếu bà thật sự quan tâm đến sự thật và căm ghét những kẻ đã giết dân vô tội, hãy về Huế một lần trong dịp Tết để hỏi thăm đồng bào Huế của bà những ai là kẻ giết người và những ai là người có thân nhân bị giết, không phải 24 người mà nhiều ngàn người. Những kẻ chôn sống nhiều ngàn dân Huế không nói tiếng Anh như Bob Kerrey mà có một giọng nói rất giống bà.

     Nếu bà quan tâm đến sự thật hãy tìm đến các “Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân” và hỏi họ đã giết bao nhiêu “Mỹ Ngụy” còn mặc tả ở nhà hàng Mỹ Cảnh, bao nhiêu mái đầu xanh ở rạp hát Kinh Đô, bao nhiêu em bé chết trong tay còn ôm cặp ở tiểu học Cai Lậy v.v... Hàng ngàn cuộc thảm sát do CS gây ra trên đất nước VN đang cần được đưa ra dưới ánh sáng sự thật và công lý.

     Bob Kerrey có lỗi với ai?

     Bà Ninh phát biểu bằng một giọng trịch thượng và hằn học: “Việc ông hối hận về vai trò trong vụ thảm sát Thạnh Phong tôi không thể biết và chỉ có mình ông Kerrey biết. Không thể coi việc giữ vị trí lãnh đạo của đại học nhiều tham vọng như ĐH Fulbright là cách sửa sai cho những hành động trong quá khứ”. Việc bà “không thể biết” là tại bà kém thông tin nhưng cựu TNS Bob Kerrey hay Ngoại trưởng John Kerry không cần phải báo cho bà biết.

     Người viết không binh vực cho Bob Kerrey. Bob Kerrey dù trực tiếp ra tay, ra lịnh hay không vẫn là người có lỗi. Nhưng ông ta chỉ có lỗi với nhân dân VN, với thân nhân những người bị toán SEALs của ông giết chứ không có lỗi gì với đảng CS và nhà nước CS mà bà Ninh đang cung phụng. Dưới các chế độ dân chủ, vai trò, chức năng và sự phân định giữa nhân dân và chính phủ rõ ràng chứ không đánh lận con đen: đảng cũng chính là dân tộc, đảng cũng chính là tổ quốc như dưới chế độ CS.

     Một lỗi lầm của Bob Kerrey trong chiến tranh không làm cuộc chiến bảo vệ tự do của miền Nam mất đi chính nghĩa và cũng không giúp đảng CSVN có chính nghĩa.

     Hôm 27-05 vừa qua, trong chuyến viếng thăm Hiroshima, Nhật Bản, TT Barack Obama bày tỏ lòng thương tiếc đối với nạn nhân bom nguyên tử của Mỹ và cảm tình đối những người sống sót nhưng ông không xin lỗi. Cuộc chiến chống Phát-xít Nhật là cuộc chiến chính nghĩa. Những kẻ phải chịu trách nhiệm cho điêu tàn của nước Nhật và chết chóc của nhân dân Nhật là lãnh đạo chế độ quân phiệt Phát-xít Nhật thời đó chứ không phải Mỹ.

     Tương tự, trong lúc không thể so sánh nỗi đau bằng một nỗi đau, thảm sát Thạnh Phong cũng phải được nhìn từ nguyên nhân đến hậu quả của cả cuộc chiến Việt Nam.

     Cái chết của 24 người dân làng Thạnh Phong, phân tích cho cùng, cũng không khác gì cái chết của 5.000 người dân Huế, của 32 học sinh trường tiểu học Cai Lậy, của 13 cô gái Thanh niên Xung phong ở Ngã Ba Đồng Lộc, của Nguyễn Văn Thạc, của Đặng Thùy Trâm, của bao nhiêu thế hệ thanh niên miền Bắc và nói rộng hơn của ba triệu người dân Việt khắp hai miền do âm mưu Bolshevik hóa VN bằng bạo lực của đảng CS.
Chủ trương CS hóa Việt Nam đã được in đậm trong cương lĩnh đầu tiên của đảng CS từ 1930 chứ không phải sau khi Mỹ đổ bộ xuống Đà Nẵng 1965. Dù Mỹ có đến hay không thì mục tiêu tối hậu của đảng CSVN vẫn không thay đổi. Bà Ninh hãy trả lời giùm câu hỏi: “Nếu đảng CSVN không chủ trương thôn tính miền Nam bằng võ lực thì thảm sát Thạnh Phong có xảy ra không?”

     Thành phần “trí thức xã hội chủ nghĩa” như bà TNTN chẳng những không đóng góp được gì vào việc làm thăng tiến xã hội, thúc đẩy nhanh hơn cuộc cách mạng tự do và nhân bản đất nước, giúp đưa dân tộc chúng ta vượt qua những bế tắc tư tưởng và chính trị để hội nhập vào dòng thác tiến bộ của nhân loại, mà với khả năng bồi bút, uốn cong ba tấc lưỡi, thành phần này đã trở thành bức tường chắn ngang tiến trình khai phóng đất nước và đó là một tội ác.

     Đã hai tháng kể từ khi cá chết hàng loạt được phát hiện tại Hà Tĩnh đầu tháng 4-2016, hơn một tháng sau khi chính quyền hứa hẹn sẽ công bố nguyên nhân gây ra một thảm họa sinh thái, được coi là chưa từng có tại 4 tỉnh miền Trung, và có thể đối với toàn Việt Nam. Trong lúc chính quyền kêu gọi dân chúng trở lại du lịch vui chơi, tắm biển Quảng Bình và nhiều nơi khác, thì tại tỉnh láng giềng Hà Tĩnh –trung tâm của thảm họa cá chết– nỗi lo nhiễm độc tiếp tục ám ảnh người dân. Ngành y tế Việt Nam có trách nhiệm gì trong việc tình trạng lo sợ nhiễm độc kéo dài tại khu vực biển miền Trung ?

     Một thực tế rất tương phản đang diễn ra. Trong lúc trên các phương tiện truyền thông chính thống, vắng vẻ tin bài về nhiễm độc biển miền Trung (1), thì trên các mạng xã hội, thỉnh thoảng lại xuất hiện các tin, và cả clip về nhiễm độc hải sản gây tử vong tại khu vực này. Cùng lúc với việc tại một số tỉnh miền Trung, cụ thể là Hà Tĩnh, chính quyền cho mở rộng mạng lưới bán hải sản “an toàn”, thì cũng có nhiều trường hợp hải sản người dân đánh bắt về không bán được. Nỗi lo nhiễm độc bao trùm đời sống cư dân nhiều vùng quê biển, càng làm tăng thêm tình cảnh bế tắc hiện nay, khi rất nhiều ngư dân phải chấp nhận cảnh gác lưới, buông chèo. Trong tình trạng chính quyền không đưa ra thời hạn công bố thông tin chính thức về nguyên nhân cá chết, và nhiều nhân chứng tại chỗ ghi nhận việc dân cư mắc các chứng bệnh giống như ngộ độc do tiếp xúc với hải sản, thì câu hỏi về độ an toàn của nước biển và hải sản tại khu vực ven bờ tiếp tục ám ảnh không chỉ người dân tại khu vực này.

     Vừa nhớ, vừa sợ biển

     Về vấn đề này, tạp chí Xã hội của RFI xin chuyển tới quý vị những chia sẻ của các nhân chứng tại chỗ và phần nhận định của bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên (Sydney, Úc) và bác sĩ Trần Tuấn, tiến sĩ ngành dịch tễ học (Hà Nội). Bác sĩ Trần Tuấn cũng là người phụ trách Liên minh Y tế Vì dân (EBHPD).

     Trước hết, mời quý vị đến với khu vực thôn Đông Yên, cách khu vực nhà máy Formosa chừng một cây số về phía nam, qua tiếng nói của ông Mai Cường Quang (một cư dân thôn Đông Yên, xã Kỳ Phương, huyện Kỳ Anh) :

     “Bây giờ, nếu người ta có đi biển, thì thứ nhất là tâm lý lo sợ : lo sợ bị nhiễm độc, cơ thể bị tiếp xúc với nước cũng gây lo sợ. Cách đây hai ngày, có hai người đi đánh mực về, họ đi cho vui. Đánh được con mực về, rất là thèm, con mực rất tươi. Hai anh em xẻ thịt ra, luộc lên rồi chuẩn bị nhắm. Nhưng ruột của nó đem cho gà ăn, gà chết ngay tại chỗ. Một người khác đi đánh bắt được một con cá mú, cỡ dăm ba lạng. Thấy thèm, kho định ăn, nhưng kho lên con cá đổi màu, sợ không dám ăn. Đem ra bỏ cho gà ăn, gà cũng chết. Người trong làng ở đây, người ta kể như thế. Tâm lý người ta rất sợ chuyện đó (…)”.

     Thầy giáo Lê Quốc Châu, người chủ trương quỹ từ thiện Áo Tơi, chia sẻ cảm nghĩ của ông về vấn đề này với một góc nhìn khác: “Hiện nay, tôi cũng chưa thấy một người nào bị nhiễm độc, thấy mọi người cũng bình an thôi. Nhưng yếu tố tâm lý, tác động tâm lý thì rất lớn. Tức là người ta sợ bị nhiễm độc này nọ nhiều hơn là thực tế bị nhiễm độc. Hôm vào trong Mỹ Lợi, bà con cũng đánh cá về, nhưng không thấy bất cứ một ai mua cả. Còn thôn Đông Yên, xã Kỳ Lợi, họ vẫn đánh cua ghẹ về, và một số nhà họ vẫn ăn (…)”.

     Nhiều triệu chứng giống như ngộ độc

     Sơ Hoài, làm việc tại một trạm xá của Cộng đoàn Mến Thánh Giá Hướng Phương, tại huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh, cho biết tình trạng sức khỏe rất đáng ngại của nhiều người dân trong vùng, đến điều trị hàng ngày tại đây :

     “Từ một tháng nay, trong làng họ đến chỗ chúng tôi rất đông. Mỗi ngày khoảng 50 người đến truyền dịch (nước muối sinh lý). Các triệu chứng phổ biến là: tức ngực, khó thở, đau bụng, đi ngoài, đau đầu, rồi tay chân mệt mỏi. Nói chung họ không có cảm giác là vui vẻ gì cả. Tội nghiệp lắm !

     Trong thời gian qua, khi thấy họ như vậy, tôi khuyên họ đi khám bệnh viện. Đi khám về họ bảo bệnh viện xét nghiệm rồi nói không có chuyện chi cả.

     Ở đây có trường hợp rất nặng nữa là có một người khi đang đi lễ tại nhà thờ thì bị xỉu. Một người đàn ông trai tráng. Đưa đến bệnh viện cấp cứu, thấy yếu quá nên chuyển vào Sài Gòn. Hiện tại đã gần một tháng rồi. Ba trường hợp nữa cũng đi khám (bệnh viện Sài Gòn). Đây là những người có điều kiện. Bệnh viện cho xét nghiệm, nói những người này ăn cá bị nhiễm độc (…)” (cũng theo sơ Hoài, hầu như gia đình nào tại khu vực này cũng có người mắc các triệu chứng nói trên).

     Về phản ứng của ngành y tế trong vụ biển miền Trung nhiễm độc, bác sĩ Trần Tuấn nhận xét:

     “Hiện nay, trên phương tiện thông tin đại chúng, về mặt chính thức của nhà nước, chưa có thông điệp rõ ràng về việc liệu có hay không tình trạng cá biển nhiễm độc tại khu vực này. Và nếu có thì căn nguyên ở đâu. Chúng tôi thấy rằng, chưa cần bàn tới căn nguyên, thì ít nhất phải khẳng định được là có bị nhiễm độc hay không. Bởi vì, thực sự nếu trả lời có bị nhiễm độc, thì có thể toàn bộ khu vực có nguy cơ nhiễm độc cá như vậy thì phải coi là khu vực có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe. Vậy thì, về mặt y tế, các biện pháp dự phòng phải được thực hiện, phải khoanh vùng nguy cơ bị dịch, và thực hiện các biện pháp giúp cho tránh tiếp xúc với các nguồn độc chất

     Cho đến nay, chúng ta thấy rõ ràng là chưa có những biện pháp như thế. Chưa có tiếng nói của các cơ quan y tế, kể cả các hội. Sự im lặng này chúng tôi thấy là tương đối khó hiểu.

     Quả thực chúng tôi là những người làm ngành y, cũng làm y tế dự phòng. Cho đến nay cũng không thể hiểu nổi tại sao có một tình trạng im lặng mà chúng tôi cho rằng bất thường như thế này. Bởi vì ngành y là ngành lấy chăm sóc sức khỏe của người dân làm trọng. Mục tiêu chính là làm sao có thể để đảm bảo cho người dân tránh được nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe. Cụ thể tại một khu vực đã có hiện tượng cá chết nhiều như vậy, diễn ra trong một thời gian dài như vậy”.

     Không thể đợi công bố căn nguyên cá chết !

     Xử lý cuộc khủng hoảng môi sinh tại miền Trung về phương diện y tế có nhất thiết phải chờ đến khi có kết quả điều tra chính thức về nguyên nhân cá chết hay không, bác sĩ Trần Tuấn giải thích:

     “Tôi nghĩ rằng nếu có tâm lý chờ đợi, cho đến khi tìm ra căn nguyên ngộ độc rồi mới bắt tay vào hành động, thì đây là một tâm lý không đúng với tinh thần khoa học dự phòng. Khi đã có hiện tượng cá chết và cá là một nguồn thực phẩm trực tiếp với người dân tại khu vực đó, cũng như nó có thể lan rộng ra, mà phải đợi đến khi tìm ra căn nguyên thì đã quá muộn.

     Ít nhất chúng ta phải theo dõi tình trạng sức khỏe của cư dân trong vùng, để xem xét xem liệu có tình trạng sức khỏe bất thường xảy ra hay không. Những trường hợp có khả năng liên quan đến tình trạng cá chết hay không. Như vậy, riêng về mặt lâm sàng, điều này hoàn toàn cho phép chúng ta có thể theo dõi các đối tượng trong khu vực, để từ đó có các chỉ định mạnh mẽ hơn trong việc bảo vệ sức khỏe của người dân”.

     Bác sĩ Trần Tuấn đặc biệt nhấn mạnh đến những gì mà ngành y có thể làm được trước một cuộc khủng hoảng môi sinh như tại khu vực ven biển miền Trung hiện nay :

     “Tôi nghĩ là sự im lặng này là một sự im lặng rất khó hiểu. Sự im lặng của Bộ Y tế, cũng như hệ thống y tế đối với người dân đã là khó hiểu rồi. Điều thứ hai là lương tâm của người thầy thuốc, bác sĩ, thể hiện thông qua các nghiệp đoàn của mình, như Tổng hội Y học, Hội Y tế Công cộng, rồi Hội Y tế Dự phòng, Hội Y học Dự phòng… Đấy là những hội mà tôi cho rằng trực tiếp liên quan.

     Cá nhân tôi, tôi thấy có thể là về mặt chính quyền, về mặt chính trị, có những vấn đề mà họ phải xem xét, phải nhìn nhận thế này thế kia, nhưng ít nhất, về mặt khoa học, về mặt chăm sóc sức khỏe, thì tôi chắc rằng không ai có thể ngăn cấm họ vào làm việc với người dân, để rồi khoanh khu vực lại, xác định vùng có nguy cơ, rồi tổ chức thiết lập việc theo dõi sức khỏe để giám sát xem có tình trạng bất thường gì xảy ra không, để nhanh chóng có các biện pháp dự phòng, ngăn ngừa các nguy cơ tiếp xúc, đánh giá các hiện tượng bất thường xảy ra với người dân vùng đó, kể từ vấn đề thực phẩm, cho đến nước uống, và các nguy cơ khác. Trong lúc tình trạng nguyên nhân chưa rõ ràng, thì mình phải xem một cách rộng rãi. Ngoài từ biển ra, còn vấn đề đất, không khí. Về mặt trách nhiệm, chúng ta không thể làm ngơ ở một khu vực xảy ra một thảm họa môi sinh như vậy, mà căn nguyên chưa được làm rõ.

     Về tình hình tại Kỳ Anh, chúng tôi đã gặp bác sĩ Phan Thị Xuân Liễu, giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện, qua điện thoại, nhưng không được hồi đáp. Về tình hình nhiễm độc do ăn cá biển, bác sĩ Trần Đắc Phu, cục trưởng Cục Y tế Dự phòng, đề nghị chúng tôi liên lạc với cơ quan quản lý an toàn thực phẩm (xem thêm phần giải thích của bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên bên dưới). Về phần mình, giáo sư Lê Vũ Anh, chủ tịch Hội Y tế Công cộng, giải thích hội của ông hiện đã quá tải, vì nhiều việc trầm trọng hơn, nên không thể quan tâm đến vấn đề này.

***

     Bộ Y tế đã im lặng, im lặng trước tình trạng môi sinh ven biển, cũng như im lặng trước cảnh ngộ nhiều ngư dân có các triệu chứng giống như nhiễm độc. Im lặng, bất chấp nỗi lo ngại rất lớn của nhiều người. Nỗi lo ngại không được làm sáng tỏ, không được giải tỏa, có thể trở nên trầm trọng hơn, và tiếp tục lan rộng trong xã hội. Những lo âu thái quá có thể biến thành chấn thương tâm lý, một thứ ngộ độc tinh thần, gây tác hại nặng nề đến sức khỏe.

     Thực ra, xét trên một phương diện khác, Bộ Y tế đã không hề im lặng. Kể từ đầu tháng 5-2016 đến nay, Bộ bắt đầu lên tiếng theo đúng chủ trương: Biển về cơ bản là sạch.. bất chấp nhiều hiểm họa tiềm tàng ở khu vực ven bờ (2). Sau khi chính quyền thừa nhận thảm họa vào cuối tháng 4, và chỉ ít ngày sau khi báo chí ngừng đưa tin rộng rãi, đến ngày 10-05, Viện Kiểm nghiệm An toàn Vệ sinh Thực phẩm Quốc gia của Bộ Y tế đã nhanh chóng xác nhận 139 mẫu hải sản “an toàn” của bốn tỉnh miền Trung (3). Vấn đề xét nghiệm độ nhiễm độc của hải sản “gần bờ” như vậy dường như đã bị bỏ lơ, trong khi các mẫu cá chết đã được thu thập trước thời điểm lấy các mẫu hải sản sống.

     Thảm họa cá chết chưa từng có và nguy cơ nhiễm độc đối với người dân ven biển miền Trung –đang có xu hướng bị dìm vào quên lãng– rõ ràng đặt ra trước công luận vấn đề trách nhiệm của những người làm chuyên môn, những người làm nghề y tại Việt Nam. Trách nhiệm của giới cầm quyền cấp cao đã bị nhiều chỉ trích hay lên án trong công luận. Bác sĩ Trần Tuấn nhấn mạnh đến trách nhiệm của ngành y tế nói chung, của Bộ Y tế, cũng như phía các hiệp hội nhà nước. Nhưng mặt khác, riêng về phía địa phương, nhiều nhân chứng ngay tại tỉnh Hà Tĩnh -tâm điểm của thảm họa cá chết- cho thấy, chính quyền các cấp cũng đã có nhiều áp lực không chính thức để buộc những người làm việc trong hệ thống phải im tiếng trước nỗi lo, nỗi khổ, nỗi đau của các ngư dân đồng hương. 

     Thảm họa môi sinh chưa từng có đối với Việt Nam này cũng đặt các mạng lưới xã hội dân sự non trẻ, đang khát khao khẳng định tính độc lập của mình, trước một thách thức: Trong những điều kiện ít thuận lợi rất nhiều, nhưng ở một vị thế tự do hơn nhiều về tinh thần, liệu họ có thể làm gì để giúp đỡ có hiệu quả cho rất nhiều người dân biển đang không chỉ đau khổ vì bệnh tật, mà còn đang rất cô đơn, bối rối, hoang mang về mặt tinh thần ?

     RFI xin chân thành cảm ơn sơ Hoài, các ông Mai Cường Quang, Lê Quốc Châu cùng các bác sĩ Trần Tuấn, Nguyễn Đình Nguyên đã dành thời gian cho chương trình Tạp chí Xã hội tuần này về cuộc khủng hoảng nhiễm độc biển miền Trung.

     ---------------------------------------

     (1) Dư luận đặc biệt chú ý đến hiện tượng một số bài viết liên quan đến thảm nạn tại miền Trung bị gỡ bỏ, ví dụ như bài "Lời than thở của các loài cá", đăng trên ấn phẩm Thế Giới Tiếp Thị (ấn phẩm đồng thời bị đình bản) hay bài "Kiểm tra Formosa: đụng đâu sai đó" trên Tuổi Trẻ. Hay thông tin về việc báo Tuổi Trẻ Cười buộc phải thay trang bìa đả kích Formosa, với lời thoại của rùa vàng: "Giặc ở sau lưng nhà vua đó".

     (2) Một số nhân chứng địa phương cho biết: nhiều hoạt động phổ biến kiến thức trong cộng đồng về phòng, chống độc từ biển đã bị đình hoãn, trong khi chờ đợi kết quả chính thức về nguyên nhân cá chết.

     (3) Đa số các hải sản được thông báo an toàn là đánh bắt ngoài khơi, xa hơn 20 hải lý. Như vậy, một số nhỏ đánh bắt ven bờ vẫn được coi là an toàn. Hải sản ven bờ an toàn hay không an toàn ? Thông tin chính thống nhiều mâu thuẫn, và không rõ ràng, xung quanh vấn đề này cũng có thể làm tăng thêm hoài nghi.

 

Bệnh nghi do ngộ độc tại Hà Tĩnh : Y tế cộng đồng hay vấn đề cá nhân ?

(Phỏng vấn bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên)

     Một bệnh như thế nào có thể được coi là vấn đề của y tế cộng đồng ?

     Hiện tượng thứ nhất: trong một vùng, nếu chỉ có một vài người mắc thì không phải là vấn đề cộng đồng. Hiện tượng thứ hai: nếu có cả một làng bị cúm, nhưng là bệnh tái đi tái lại hàng năm, thì cũng không phải là vấn đề của một cộng đồng lớn.

     Để được coi là một vấn đề cộng đồng, thứ nhất phải là bệnh mới phát, hoặc là trong dạng cảnh báo có thể là một dịch, theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới. Một số bệnh khác, như nhiễm trùng dạng không phổ biến, chỉ cần ba người thuộc một quần thể khép kín bị mắc, là có thể coi là vấn đề cộng đồng. Có thể cuối cùng đây cũng chỉ là một bệnh bình thường, nhưng thoạt tiên phải đặt vấn đề này trong lĩnh vực y tế cộng đồng, chứ không phải chỉ là vấn đề của một cá nhân hay của một gia đình.

     Trong lĩnh vực y tế công cộng, tồn nghi về nhiễm độc do ăn cá tại Vũng Áng thuộc trách nhiệm của ngành an toàn thực phẩm hay y tế dự phòng ?

     Thực phẩm không an toàn gây tác hại trên phạm vi rộng thì bên An toàn Thực phẩm phải chịu trách nhiệm, bởi vì đây là thực phẩm đã được cho lưu hành trên thị trường. Trong khi đó, trường hợp cá chết Vũng Áng (hay cá đánh bắt tại Vũng Áng, trực tiếp tiêu thụ sau đó) chưa phải là cá đưa vào thị trường. Nếu xảy ra hiện tượng cá chết hàng loạt là yếu tố tự nhiên, người sử dụng ăn con cá chết (hoặc nghi vấn bị nhiễm độc tố) tại Vũng Áng, thì việc này không thuộc ngành an toàn thực phẩm, mà là thuộc về lĩnh vực sức khỏe - môi trường. Kể cả việc người dân không nghe khuyến cáo mà ăn cá, ngành y tế vẫn phải có trách nhiệm.

     Kinh nghiệm của Úc hay một số nước khác xử lý ra sao một khủng hoảng có ảnh hưởng tâm lý nặng nề như trường hợp nghi vấn nhiễm độc tại Vũng Áng ?

     Nếu đây là một vấn nạn xảy ra tại Úc và mang tính cộng đồng, thì cần phải tính đến mấy yếu tố sau. Thứ nhất là với con người, thứ hai là với môi trường. Trên con người, cũng như cộng đồng đều có ba vấn đề. Thứ nhất là sức khỏe hiện tại, thứ hai là sức khỏe tâm thần, tâm lý và thứ ba là xã hội. Về bệnh, mình phải quan tâm điều trị bệnh người ta mắc phải.

     Về mặt tâm lý, phải xem xem nếu bệnh lý, bệnh dịch đó đủ gây sang chấn tâm lý, thì lập tức họ có các đội, gọi là “đường dây nóng”. Ngành y tế cộng đồng, dịch tễ học sẽ làm việc với các đội chuyên viên tâm lý, hoặc các bác sĩ tâm thần, để làm công việc úy lạo cho người bệnh, hoặc những nạn nhân gián tiếp, hoặc trực tiếp.

     Thứ ba là về sức khỏe xã hội, ví dụ như khi cả một cộng đồng bị ảnh hưởng do dịch, tức là nếu phải đóng cửa một nhà máy, một vùng du lịch… thì đồng thời phải có biện pháp để nhanh chóng ổn định tình hình đời sống cho cả một xã hội. (…)

     Trong trường hợp như tại Vũng Áng, trước mắt khi hệ thống y tế nhà nước để mặc người dân tự lo, thì người dân nên làm như thế nào ?

     Đây là một vấn đề nan giải với tình hình Việt Nam. Vì tôi biết người dân ở Vũng Áng, Hà Tĩnh, không khá giả gì, chưa kể vấn đề bây giờ không có đánh bắt, thu nhập gì.

     Bên cạnh đó, khó khăn thứ nhất là họ không có hướng dẫn phải đi làm cụ thể những gì, làm như thế nào, làm ở đâu. Phải có người biết chuyên môn đứng ra xem xét. Không phải mình muốn làm gì là được. Đầu tiên phải đặt ra giả thuyết. Căn cứ trên các triệu chứng, đặt giả thuyết xem nghi bệnh nhân bị gì. (…) Ví dụ, nếu tôi là người làm y tế, tôi phải chọn ra năm nghi vấn, ưu tiên xếp thứ tự từ một đến năm. Lúc đó, có điều kiện ít thì làm ít, điều kiện nhiều thì làm nhiều.

     Tại trạm xá Vũng Áng, được nghe nói có một vài bệnh nhân đi tới Sài Gòn để xét nghiệm, và được biết là nhiễm độc chì. Bác sĩ nghĩ gì về chuyện này ?

     Đây là một thông tin rất thú vị. Nguồn nhiễm độc chì ở đâu nhiều nhất. Tôi nghĩ là từ công nghiệp. Mình không có kết luận từ trước, nhưng rõ ràng có một mối liên quan giữa việc nhiễm độc chì và nguồn chất thải công nghiệp. Giả định là từ đây cho đến khi đưa ra được câu trả lời "không" (thì vẫn) phải đặt vấn đề nghi ngờ và phải đi điều tra.

     Vào tháng 2-2015, tôi được đọc báo trong nước, ở vùng Quỳnh Lưu (Nghệ An) và Hà Tĩnh, cũng có hiện tượng cá chết vào dịp Tết. Vào thời điểm đó, những người làm tài nguyên môi trường, theo tôi nhớ, đã phát hiện được lượng chì trong nước cao gấp 10 lần so với hàm lượng cho phép. Sau đó, chuyện này bị lãng quên. Như vậy phải xem xét vấn đề chất thải công nghiệp.

     http://vi.rfi.fr/viet-nam/

 

 

     Đã hai tháng kể từ khi cá chết hàng loạt được phát hiện tại Hà Tĩnh đầu tháng 4-2016, hơn một tháng sau khi chính quyền hứa hẹn sẽ công bố nguyên nhân gây ra một thảm họa sinh thái, được coi là chưa từng có tại 4 tỉnh miền Trung, và có thể đối với toàn Việt Nam. Trong lúc chính quyền kêu gọi dân chúng trở lại du lịch vui chơi, tắm biển Quảng Bình và nhiều nơi khác, thì tại tỉnh láng giềng Hà Tĩnh –trung tâm của thảm họa cá chết– nỗi lo nhiễm độc tiếp tục ám ảnh người dân. Ngành y tế Việt Nam có trách nhiệm gì trong việc tình trạng lo sợ nhiễm độc kéo dài tại khu vực biển miền Trung ?

     Một thực tế rất tương phản đang diễn ra. Trong lúc trên các phương tiện truyền thông chính thống, vắng vẻ tin bài về nhiễm độc biển miền Trung (1), thì trên các mạng xã hội, thỉnh thoảng lại xuất hiện các tin, và cả clip về nhiễm độc hải sản gây tử vong tại khu vực này. Cùng lúc với việc tại một số tỉnh miền Trung, cụ thể là Hà Tĩnh, chính quyền cho mở rộng mạng lưới bán hải sản “an toàn”, thì cũng có nhiều trường hợp hải sản người dân đánh bắt về không bán được. Nỗi lo nhiễm độc bao trùm đời sống cư dân nhiều vùng quê biển, càng làm tăng thêm tình cảnh bế tắc hiện nay, khi rất nhiều ngư dân phải chấp nhận cảnh gác lưới, buông chèo. Trong tình trạng chính quyền không đưa ra thời hạn công bố thông tin chính thức về nguyên nhân cá chết, và nhiều nhân chứng tại chỗ ghi nhận việc dân cư mắc các chứng bệnh giống như ngộ độc do tiếp xúc với hải sản, thì câu hỏi về độ an toàn của nước biển và hải sản tại khu vực ven bờ tiếp tục ám ảnh không chỉ người dân tại khu vực này.

     Vừa nhớ, vừa sợ biển

     Về vấn đề này, tạp chí Xã hội của RFI xin chuyển tới quý vị những chia sẻ của các nhân chứng tại chỗ và phần nhận định của bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên (Sydney, Úc) và bác sĩ Trần Tuấn, tiến sĩ ngành dịch tễ học (Hà Nội). Bác sĩ Trần Tuấn cũng là người phụ trách Liên minh Y tế Vì dân (EBHPD).

     Trước hết, mời quý vị đến với khu vực thôn Đông Yên, cách khu vực nhà máy Formosa chừng một cây số về phía nam, qua tiếng nói của ông Mai Cường Quang (một cư dân thôn Đông Yên, xã Kỳ Phương, huyện Kỳ Anh) :

     “Bây giờ, nếu người ta có đi biển, thì thứ nhất là tâm lý lo sợ : lo sợ bị nhiễm độc, cơ thể bị tiếp xúc với nước cũng gây lo sợ. Cách đây hai ngày, có hai người đi đánh mực về, họ đi cho vui. Đánh được con mực về, rất là thèm, con mực rất tươi. Hai anh em xẻ thịt ra, luộc lên rồi chuẩn bị nhắm. Nhưng ruột của nó đem cho gà ăn, gà chết ngay tại chỗ. Một người khác đi đánh bắt được một con cá mú, cỡ dăm ba lạng. Thấy thèm, kho định ăn, nhưng kho lên con cá đổi màu, sợ không dám ăn. Đem ra bỏ cho gà ăn, gà cũng chết. Người trong làng ở đây, người ta kể như thế. Tâm lý người ta rất sợ chuyện đó (…)”.

     Thầy giáo Lê Quốc Châu, người chủ trương quỹ từ thiện Áo Tơi, chia sẻ cảm nghĩ của ông về vấn đề này với một góc nhìn khác: “Hiện nay, tôi cũng chưa thấy một người nào bị nhiễm độc, thấy mọi người cũng bình an thôi. Nhưng yếu tố tâm lý, tác động tâm lý thì rất lớn. Tức là người ta sợ bị nhiễm độc này nọ nhiều hơn là thực tế bị nhiễm độc. Hôm vào trong Mỹ Lợi, bà con cũng đánh cá về, nhưng không thấy bất cứ một ai mua cả. Còn thôn Đông Yên, xã Kỳ Lợi, họ vẫn đánh cua ghẹ về, và một số nhà họ vẫn ăn (…)”.

     Nhiều triệu chứng giống như ngộ độc

     Sơ Hoài, làm việc tại một trạm xá của Cộng đoàn Mến Thánh Giá Hướng Phương, tại huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh, cho biết tình trạng sức khỏe rất đáng ngại của nhiều người dân trong vùng, đến điều trị hàng ngày tại đây :

     “Từ một tháng nay, trong làng họ đến chỗ chúng tôi rất đông. Mỗi ngày khoảng 50 người đến truyền dịch (nước muối sinh lý). Các triệu chứng phổ biến là: tức ngực, khó thở, đau bụng, đi ngoài, đau đầu, rồi tay chân mệt mỏi. Nói chung họ không có cảm giác là vui vẻ gì cả. Tội nghiệp lắm !

     Trong thời gian qua, khi thấy họ như vậy, tôi khuyên họ đi khám bệnh viện. Đi khám về họ bảo bệnh viện xét nghiệm rồi nói không có chuyện chi cả.

     Ở đây có trường hợp rất nặng nữa là có một người khi đang đi lễ tại nhà thờ thì bị xỉu. Một người đàn ông trai tráng. Đưa đến bệnh viện cấp cứu, thấy yếu quá nên chuyển vào Sài Gòn. Hiện tại đã gần một tháng rồi. Ba trường hợp nữa cũng đi khám (bệnh viện Sài Gòn). Đây là những người có điều kiện. Bệnh viện cho xét nghiệm, nói những người này ăn cá bị nhiễm độc (…)” (cũng theo sơ Hoài, hầu như gia đình nào tại khu vực này cũng có người mắc các triệu chứng nói trên).

     Về phản ứng của ngành y tế trong vụ biển miền Trung nhiễm độc, bác sĩ Trần Tuấn nhận xét:

     “Hiện nay, trên phương tiện thông tin đại chúng, về mặt chính thức của nhà nước, chưa có thông điệp rõ ràng về việc liệu có hay không tình trạng cá biển nhiễm độc tại khu vực này. Và nếu có thì căn nguyên ở đâu. Chúng tôi thấy rằng, chưa cần bàn tới căn nguyên, thì ít nhất phải khẳng định được là có bị nhiễm độc hay không. Bởi vì, thực sự nếu trả lời có bị nhiễm độc, thì có thể toàn bộ khu vực có nguy cơ nhiễm độc cá như vậy thì phải coi là khu vực có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe. Vậy thì, về mặt y tế, các biện pháp dự phòng phải được thực hiện, phải khoanh vùng nguy cơ bị dịch, và thực hiện các biện pháp giúp cho tránh tiếp xúc với các nguồn độc chất

     Cho đến nay, chúng ta thấy rõ ràng là chưa có những biện pháp như thế. Chưa có tiếng nói của các cơ quan y tế, kể cả các hội. Sự im lặng này chúng tôi thấy là tương đối khó hiểu.

     Quả thực chúng tôi là những người làm ngành y, cũng làm y tế dự phòng. Cho đến nay cũng không thể hiểu nổi tại sao có một tình trạng im lặng mà chúng tôi cho rằng bất thường như thế này. Bởi vì ngành y là ngành lấy chăm sóc sức khỏe của người dân làm trọng. Mục tiêu chính là làm sao có thể để đảm bảo cho người dân tránh được nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe. Cụ thể tại một khu vực đã có hiện tượng cá chết nhiều như vậy, diễn ra trong một thời gian dài như vậy”.

     Không thể đợi công bố căn nguyên cá chết !

     Xử lý cuộc khủng hoảng môi sinh tại miền Trung về phương diện y tế có nhất thiết phải chờ đến khi có kết quả điều tra chính thức về nguyên nhân cá chết hay không, bác sĩ Trần Tuấn giải thích:

     “Tôi nghĩ rằng nếu có tâm lý chờ đợi, cho đến khi tìm ra căn nguyên ngộ độc rồi mới bắt tay vào hành động, thì đây là một tâm lý không đúng với tinh thần khoa học dự phòng. Khi đã có hiện tượng cá chết và cá là một nguồn thực phẩm trực tiếp với người dân tại khu vực đó, cũng như nó có thể lan rộng ra, mà phải đợi đến khi tìm ra căn nguyên thì đã quá muộn.

     Ít nhất chúng ta phải theo dõi tình trạng sức khỏe của cư dân trong vùng, để xem xét xem liệu có tình trạng sức khỏe bất thường xảy ra hay không. Những trường hợp có khả năng liên quan đến tình trạng cá chết hay không. Như vậy, riêng về mặt lâm sàng, điều này hoàn toàn cho phép chúng ta có thể theo dõi các đối tượng trong khu vực, để từ đó có các chỉ định mạnh mẽ hơn trong việc bảo vệ sức khỏe của người dân”.

     Bác sĩ Trần Tuấn đặc biệt nhấn mạnh đến những gì mà ngành y có thể làm được trước một cuộc khủng hoảng môi sinh như tại khu vực ven biển miền Trung hiện nay :

     “Tôi nghĩ là sự im lặng này là một sự im lặng rất khó hiểu. Sự im lặng của Bộ Y tế, cũng như hệ thống y tế đối với người dân đã là khó hiểu rồi. Điều thứ hai là lương tâm của người thầy thuốc, bác sĩ, thể hiện thông qua các nghiệp đoàn của mình, như Tổng hội Y học, Hội Y tế Công cộng, rồi Hội Y tế Dự phòng, Hội Y học Dự phòng… Đấy là những hội mà tôi cho rằng trực tiếp liên quan.

     Cá nhân tôi, tôi thấy có thể là về mặt chính quyền, về mặt chính trị, có những vấn đề mà họ phải xem xét, phải nhìn nhận thế này thế kia, nhưng ít nhất, về mặt khoa học, về mặt chăm sóc sức khỏe, thì tôi chắc rằng không ai có thể ngăn cấm họ vào làm việc với người dân, để rồi khoanh khu vực lại, xác định vùng có nguy cơ, rồi tổ chức thiết lập việc theo dõi sức khỏe để giám sát xem có tình trạng bất thường gì xảy ra không, để nhanh chóng có các biện pháp dự phòng, ngăn ngừa các nguy cơ tiếp xúc, đánh giá các hiện tượng bất thường xảy ra với người dân vùng đó, kể từ vấn đề thực phẩm, cho đến nước uống, và các nguy cơ khác. Trong lúc tình trạng nguyên nhân chưa rõ ràng, thì mình phải xem một cách rộng rãi. Ngoài từ biển ra, còn vấn đề đất, không khí. Về mặt trách nhiệm, chúng ta không thể làm ngơ ở một khu vực xảy ra một thảm họa môi sinh như vậy, mà căn nguyên chưa được làm rõ.

     Về tình hình tại Kỳ Anh, chúng tôi đã gặp bác sĩ Phan Thị Xuân Liễu, giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện, qua điện thoại, nhưng không được hồi đáp. Về tình hình nhiễm độc do ăn cá biển, bác sĩ Trần Đắc Phu, cục trưởng Cục Y tế Dự phòng, đề nghị chúng tôi liên lạc với cơ quan quản lý an toàn thực phẩm (xem thêm phần giải thích của bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên bên dưới). Về phần mình, giáo sư Lê Vũ Anh, chủ tịch Hội Y tế Công cộng, giải thích hội của ông hiện đã quá tải, vì nhiều việc trầm trọng hơn, nên không thể quan tâm đến vấn đề này.

***

     Bộ Y tế đã im lặng, im lặng trước tình trạng môi sinh ven biển, cũng như im lặng trước cảnh ngộ nhiều ngư dân có các triệu chứng giống như nhiễm độc. Im lặng, bất chấp nỗi lo ngại rất lớn của nhiều người. Nỗi lo ngại không được làm sáng tỏ, không được giải tỏa, có thể trở nên trầm trọng hơn, và tiếp tục lan rộng trong xã hội. Những lo âu thái quá có thể biến thành chấn thương tâm lý, một thứ ngộ độc tinh thần, gây tác hại nặng nề đến sức khỏe.

     Thực ra, xét trên một phương diện khác, Bộ Y tế đã không hề im lặng. Kể từ đầu tháng 5-2016 đến nay, Bộ bắt đầu lên tiếng theo đúng chủ trương: Biển về cơ bản là sạch.. bất chấp nhiều hiểm họa tiềm tàng ở khu vực ven bờ (2). Sau khi chính quyền thừa nhận thảm họa vào cuối tháng 4, và chỉ ít ngày sau khi báo chí ngừng đưa tin rộng rãi, đến ngày 10-05, Viện Kiểm nghiệm An toàn Vệ sinh Thực phẩm Quốc gia của Bộ Y tế đã nhanh chóng xác nhận 139 mẫu hải sản “an toàn” của bốn tỉnh miền Trung (3). Vấn đề xét nghiệm độ nhiễm độc của hải sản “gần bờ” như vậy dường như đã bị bỏ lơ, trong khi các mẫu cá chết đã được thu thập trước thời điểm lấy các mẫu hải sản sống.

     Thảm họa cá chết chưa từng có và nguy cơ nhiễm độc đối với người dân ven biển miền Trung –đang có xu hướng bị dìm vào quên lãng– rõ ràng đặt ra trước công luận vấn đề trách nhiệm của những người làm chuyên môn, những người làm nghề y tại Việt Nam. Trách nhiệm của giới cầm quyền cấp cao đã bị nhiều chỉ trích hay lên án trong công luận. Bác sĩ Trần Tuấn nhấn mạnh đến trách nhiệm của ngành y tế nói chung, của Bộ Y tế, cũng như phía các hiệp hội nhà nước. Nhưng mặt khác, riêng về phía địa phương, nhiều nhân chứng ngay tại tỉnh Hà Tĩnh -tâm điểm của thảm họa cá chết- cho thấy, chính quyền các cấp cũng đã có nhiều áp lực không chính thức để buộc những người làm việc trong hệ thống phải im tiếng trước nỗi lo, nỗi khổ, nỗi đau của các ngư dân đồng hương. 

     Thảm họa môi sinh chưa từng có đối với Việt Nam này cũng đặt các mạng lưới xã hội dân sự non trẻ, đang khát khao khẳng định tính độc lập của mình, trước một thách thức: Trong những điều kiện ít thuận lợi rất nhiều, nhưng ở một vị thế tự do hơn nhiều về tinh thần, liệu họ có thể làm gì để giúp đỡ có hiệu quả cho rất nhiều người dân biển đang không chỉ đau khổ vì bệnh tật, mà còn đang rất cô đơn, bối rối, hoang mang về mặt tinh thần ?

     RFI xin chân thành cảm ơn sơ Hoài, các ông Mai Cường Quang, Lê Quốc Châu cùng các bác sĩ Trần Tuấn, Nguyễn Đình Nguyên đã dành thời gian cho chương trình Tạp chí Xã hội tuần này về cuộc khủng hoảng nhiễm độc biển miền Trung.

     ---------------------------------------

     (1) Dư luận đặc biệt chú ý đến hiện tượng một số bài viết liên quan đến thảm nạn tại miền Trung bị gỡ bỏ, ví dụ như bài "Lời than thở của các loài cá", đăng trên ấn phẩm Thế Giới Tiếp Thị (ấn phẩm đồng thời bị đình bản) hay bài "Kiểm tra Formosa: đụng đâu sai đó" trên Tuổi Trẻ. Hay thông tin về việc báo Tuổi Trẻ Cười buộc phải thay trang bìa đả kích Formosa, với lời thoại của rùa vàng: "Giặc ở sau lưng nhà vua đó".

     (2) Một số nhân chứng địa phương cho biết: nhiều hoạt động phổ biến kiến thức trong cộng đồng về phòng, chống độc từ biển đã bị đình hoãn, trong khi chờ đợi kết quả chính thức về nguyên nhân cá chết.

     (3) Đa số các hải sản được thông báo an toàn là đánh bắt ngoài khơi, xa hơn 20 hải lý. Như vậy, một số nhỏ đánh bắt ven bờ vẫn được coi là an toàn. Hải sản ven bờ an toàn hay không an toàn ? Thông tin chính thống nhiều mâu thuẫn, và không rõ ràng, xung quanh vấn đề này cũng có thể làm tăng thêm hoài nghi.

 

Bệnh nghi do ngộ độc tại Hà Tĩnh : Y tế cộng đồng hay vấn đề cá nhân ?

(Phỏng vấn bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên)

     Một bệnh như thế nào có thể được coi là vấn đề của y tế cộng đồng ?

     Hiện tượng thứ nhất: trong một vùng, nếu chỉ có một vài người mắc thì không phải là vấn đề cộng đồng. Hiện tượng thứ hai: nếu có cả một làng bị cúm, nhưng là bệnh tái đi tái lại hàng năm, thì cũng không phải là vấn đề của một cộng đồng lớn.

     Để được coi là một vấn đề cộng đồng, thứ nhất phải là bệnh mới phát, hoặc là trong dạng cảnh báo có thể là một dịch, theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới. Một số bệnh khác, như nhiễm trùng dạng không phổ biến, chỉ cần ba người thuộc một quần thể khép kín bị mắc, là có thể coi là vấn đề cộng đồng. Có thể cuối cùng đây cũng chỉ là một bệnh bình thường, nhưng thoạt tiên phải đặt vấn đề này trong lĩnh vực y tế cộng đồng, chứ không phải chỉ là vấn đề của một cá nhân hay của một gia đình.

     Trong lĩnh vực y tế công cộng, tồn nghi về nhiễm độc do ăn cá tại Vũng Áng thuộc trách nhiệm của ngành an toàn thực phẩm hay y tế dự phòng ?

     Thực phẩm không an toàn gây tác hại trên phạm vi rộng thì bên An toàn Thực phẩm phải chịu trách nhiệm, bởi vì đây là thực phẩm đã được cho lưu hành trên thị trường. Trong khi đó, trường hợp cá chết Vũng Áng (hay cá đánh bắt tại Vũng Áng, trực tiếp tiêu thụ sau đó) chưa phải là cá đưa vào thị trường. Nếu xảy ra hiện tượng cá chết hàng loạt là yếu tố tự nhiên, người sử dụng ăn con cá chết (hoặc nghi vấn bị nhiễm độc tố) tại Vũng Áng, thì việc này không thuộc ngành an toàn thực phẩm, mà là thuộc về lĩnh vực sức khỏe - môi trường. Kể cả việc người dân không nghe khuyến cáo mà ăn cá, ngành y tế vẫn phải có trách nhiệm.

     Kinh nghiệm của Úc hay một số nước khác xử lý ra sao một khủng hoảng có ảnh hưởng tâm lý nặng nề như trường hợp nghi vấn nhiễm độc tại Vũng Áng ?

     Nếu đây là một vấn nạn xảy ra tại Úc và mang tính cộng đồng, thì cần phải tính đến mấy yếu tố sau. Thứ nhất là với con người, thứ hai là với môi trường. Trên con người, cũng như cộng đồng đều có ba vấn đề. Thứ nhất là sức khỏe hiện tại, thứ hai là sức khỏe tâm thần, tâm lý và thứ ba là xã hội. Về bệnh, mình phải quan tâm điều trị bệnh người ta mắc phải.

     Về mặt tâm lý, phải xem xem nếu bệnh lý, bệnh dịch đó đủ gây sang chấn tâm lý, thì lập tức họ có các đội, gọi là “đường dây nóng”. Ngành y tế cộng đồng, dịch tễ học sẽ làm việc với các đội chuyên viên tâm lý, hoặc các bác sĩ tâm thần, để làm công việc úy lạo cho người bệnh, hoặc những nạn nhân gián tiếp, hoặc trực tiếp.

     Thứ ba là về sức khỏe xã hội, ví dụ như khi cả một cộng đồng bị ảnh hưởng do dịch, tức là nếu phải đóng cửa một nhà máy, một vùng du lịch… thì đồng thời phải có biện pháp để nhanh chóng ổn định tình hình đời sống cho cả một xã hội. (…)

     Trong trường hợp như tại Vũng Áng, trước mắt khi hệ thống y tế nhà nước để mặc người dân tự lo, thì người dân nên làm như thế nào ?

     Đây là một vấn đề nan giải với tình hình Việt Nam. Vì tôi biết người dân ở Vũng Áng, Hà Tĩnh, không khá giả gì, chưa kể vấn đề bây giờ không có đánh bắt, thu nhập gì.

     Bên cạnh đó, khó khăn thứ nhất là họ không có hướng dẫn phải đi làm cụ thể những gì, làm như thế nào, làm ở đâu. Phải có người biết chuyên môn đứng ra xem xét. Không phải mình muốn làm gì là được. Đầu tiên phải đặt ra giả thuyết. Căn cứ trên các triệu chứng, đặt giả thuyết xem nghi bệnh nhân bị gì. (…) Ví dụ, nếu tôi là người làm y tế, tôi phải chọn ra năm nghi vấn, ưu tiên xếp thứ tự từ một đến năm. Lúc đó, có điều kiện ít thì làm ít, điều kiện nhiều thì làm nhiều.

     Tại trạm xá Vũng Áng, được nghe nói có một vài bệnh nhân đi tới Sài Gòn để xét nghiệm, và được biết là nhiễm độc chì. Bác sĩ nghĩ gì về chuyện này ?

     Đây là một thông tin rất thú vị. Nguồn nhiễm độc chì ở đâu nhiều nhất. Tôi nghĩ là từ công nghiệp. Mình không có kết luận từ trước, nhưng rõ ràng có một mối liên quan giữa việc nhiễm độc chì và nguồn chất thải công nghiệp. Giả định là từ đây cho đến khi đưa ra được câu trả lời "không" (thì vẫn) phải đặt vấn đề nghi ngờ và phải đi điều tra.

     Vào tháng 2-2015, tôi được đọc báo trong nước, ở vùng Quỳnh Lưu (Nghệ An) và Hà Tĩnh, cũng có hiện tượng cá chết vào dịp Tết. Vào thời điểm đó, những người làm tài nguyên môi trường, theo tôi nhớ, đã phát hiện được lượng chì trong nước cao gấp 10 lần so với hàm lượng cho phép. Sau đó, chuyện này bị lãng quên. Như vậy phải xem xét vấn đề chất thải công nghiệp.

     http://vi.rfi.fr/viet-nam/

 

 Tu do ngon luan so 245 (15-06-2016) (1)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Sáu 2018(Xem: 269)
Với một khái niệm về An ninh mạng không giống ai trên thế giới, ngoài giống đàn anh Tàu cộng: “An ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” – Với một Đảng hội mạo danh Quốc hội, gồm những đại (dễ) biểu mà ám ảnh quyền lợi lớn hơn thao thức phục vụ, tâm địa quỵ lụy đảng lớn hơn ý chí bênh vực dân – Với lối bỏ phiếu tự cho là văn minh: bấm nút kiểu nặc danh, thành ra hành xử vô trách nhiệm, sinh ra kết quả đáng nghi ngờ, bày ra âm mưu quá lộ liễu, Luật An ninh mạng vừa được thông qua hôm 12-6-2018.
14 Tháng Sáu 2018(Xem: 314)
Xin giúp quê hương và đồng bào Việtnam 🙏 🙏 🙏 https://www.whitehouse.gov/ contact/ Số phone đó gọi thì bị bắt chờ quá lâu, tụi mình có thể send comment qua link trên. Các anh chị ơi, xin hãy gọi vào số phone của Toà Bạch Ốc ở dưới đây và nhắn vào máy là: Việt Nam Needs Help ! Càng đông người gọi cho Tòa Bạch Ốc càng nhiều càng tốt. Số điện thoại gọi cho Tòa Đại Sứ: Nước ngoài gọi vào số phone: 011 202 456 1414 Ở nước Mỹ thì gọi số: (202) 456 -1414 Sẽ có máy trả lời, vì máy không có thời gian dài, nên chúng ta chỉ cần nói ngắn gọn là: Việt Nam Needs Help Xin các anh chị hãy phổ biến cho càng nhiều người càng tốt.
12 Tháng Sáu 2018(Xem: 702)
Kính thưa Quý Đồng Bào Vào các ngày 12/6/2018 và 15/6/2018, Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam (CSVN) sẽ lần lượt đưa 2 dự luật kể trên cho Quốc Hội biểu quyết để thông qua. Tuy nói là để Quốc Hội biểu quyết nhưng tự miệng bà Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã tuyên bố là vì Bộ Chính Trị Đảng CSVN đã “quyết” rồi nên Quốc Hội bắt buộc phải làm thủ tục để thông qua chứ không có lựa chọn nào khác. Nói cách khác là sẽ không có việc bấm nút chống các dự án. Tóm lại là Quốc Hội là bù nhìn và 2 dự án sẽ thành luật sau ngày 15/6.
11 Tháng Sáu 2018(Xem: 369)
CTV Danlambao - Cuộc biểu tình chống luật đặc khu của người dân Bình Thuận bước sang ngày thứ hai liên tiếp với cường độ ngày càng dữ dội hơn, đỉnh điểm vụ việc là hàng trăm cảnh sát cơ động đã bị người biểu tình buộc phải giải giáp vũ khí và tháo chạy. Lúc 12 giờ trưa ngày 11/6/2018, nhà cầm quyền đã huy động hàng trăm cảnh sát cơ động kéo đến đàn áp người biểu tình tại quốc lộ 1A, đoạn đi qua thị xã Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận khiến bạo lực tiếp tục bùng phát.
11 Tháng Sáu 2018(Xem: 326)
Nguyễn Thị Thanh Bình (Danlambao) - Chưa bao giờ trong một lúc người dân VN chúng ta bị siết vào cổ hai nỗi oan khiên khốn nạn nhất: Dự Luật Đặc Khu Dâng Nước cho Tàu cộng, và Dự Luật An Ninh Mạng rừng rú bịt miệng, bóp miệng dân! Và vì thế, cũng chưa bao giờ, kể từ biến cố Tháng Tư Đen, toàn dân VN đồng lòng đứng lên phản kháng mạnh mẽ đến kỳ cùng như thế. Và như thể chúng ta không còn một lựa chọn nào khác, khi mọi áp đặt khống chế đã đến lúc tức nước vỡ bờ