HÃY CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI THƯỢNG TIN LÀNH BỊ LÃNG QUÊN… -DAN SOUTHERLAND.

11 Tháng Mười Một 20189:00 CH(Xem: 687)
HÃY CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI THƯỢNG TIN LÀNH BỊ LÃNG QUÊN… -DAN SOUTHERLAND.

Nguyên tiêu đề: Hãy cầu nguyện cho người Thượng bị lãng quên của Việt Nam.

     Sự đàn áp của chế độ Cộng sản đối với dân tộc thiểu số ủng hộ Hoa Kỳ trong Chiến tranh VN phần lớn là không thể nhận thấy được nhưng đang bắt đầu được biết đến

     Hãy bắt đầu với một lời thú nhận. Khi tôi là một phóng viên chiến tranh ở Việt Nam vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, tôi đã không ủng hộ “báo chí nhảy dù.” Đó là chuyến đi thực tế vào vùng chiến bằng trực thăng và ở lại đó một hoặc hai ngày để cảm nhận tình hình và rồi quay trở lại Sài Gòn để viết một bài báo.

     Nhưng ở một khu vực ở Việt Nam - vùng Tây Nguyên có ý nghĩa chiến lược giáp biên giới với Campuchia và Lào và nằm ở phía bắc của đồng bằng sông Cửu Long - tôi vào và ra khỏi đó khá nhanh.

     Tôi có thể nhớ bay tới thành phố cao nguyên Kontum với một đồng nghiệp khi thành phố đó phải hứng chịu pháo và hỏa tiễn của Bắc Việt vào mùa xuân năm 1972. Hai chúng tôi quan sát nhanh, nói chuyện với một cố vấn người Mỹ và vài người binh lính Nam Việt Nam và đi về.

     Thực tế là chúng tôi chẳng thấy người dân tộc thiểu số trong vùng, kể cả người Thượng ở Kontum, mặc dù họ đã từng sống rất nhiều ở đó. Nhìn lại điều đó, không phải ít ra tôi nên bắt đầu đặt câu hỏi, "Ủa, người Thượng ở đâu?"

     Hơn 40 năm sau, người ta có thể đặt ra cùng một câu hỏi. Người Thượng, từng là một số đồng minh trung thành nhất của Quân đội Mỹ trong Chiến tranh VN, hiện đang bị che giấu và cố sống sót dưới sự đàn áp. Cuộc sống của họ bị chi phối bởi những người Kinh đã chiếm phần lớn đất đai của tổ tiên họ.

     Đồng thời, những người Thượng đã trốn sang Hoa Kỳ đang ngày càng đứng lên để kể câu chuyện về vùng đất bị mất của họ và những thách thức mà những người ở lại phải đối đầu. 

     Vào giữa những năm 1950-1960 và đầu những năm 1970, những người tỵ nạn Bắc Việt, người nghèo miền Nam Việt Nam từ các vùng duyên hải, và những người thiểu số khác đã chuyển đến vùng cao nguyên để tìm đất đai và làm việc. Nhiều khi họ chiếm đất tổ tiên của người Thượng mà không bồi thường. Những người ngoài này nhanh chóng chiếm lĩnh cả khu vực.

     Trong thời kỳ thuộc địa ở Việt Nam, người Pháp đã sử dụng thuật ngữ người Thượng, hay “người dân miền núi”, để mô tả các bộ tộc khác nhau sống ở vùng cao nguyên miền Nam Việt Nam. Michael Benge là một chuyên gia người Mỹ về người Thượng đã làm việc với họ sáu năm trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Benge, người đầu tiên làm việc cho Dịch vụ Tự nguyện Quốc tế (IVS) và sau đó cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (US AID), lưu ý rằng các bộ tộc miền núi của VN không phải là một.

     Các bộ tộc miền núi khác nhau không có tên chung nào khác ngoài cái tên người Thượng do người Pháp đặt ra và sau đó được người Mỹ chấp nhận, Benge nói. Họ chủ yếu là các nhánh người Malayo-Polynesia, Mon-Khmer, và Trung-Tây Tạng, ông nói.

     Nếu người Thượng tự chọn một tên cho mình, có lẽ họ sẽ thích gọi là Anak Cu Chiang, hoặc "con của núi rừng", theo Benge.

     Vào thời Pháp, người Thượng được hưởng quyền tự chủ đáng kể, Benge người đến Việt Nam năm 1963 cho biết. Người Pháp đã bổ nhiệm người Thượng vào các chức vụ chính thức từ cấp tỉnh xuống cấp thôn. Nhưng người Thượng không thể có được vị trí cao hơn trong hệ thống của người Pháp

     Sau khi nắm quyền lực, Nam VN có khuynh hướng coi thường người Thượng như người nguyên thuỷ, gọi họ là Mọi, hay những kẻ man rợ. Những căng thẳng như vậy giữa người Việt và người Thượng đã gia tăng trong nhiều năm.

     Năm 1964, một số đơn vị quân đội người Thượng đã khởi xướng một cuộc nổi loạn chống lại chính quyền Nam Việt Nam của Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Chính quyền Sài Gòn đã buộc người Thượng phải lấy tên người Kinh, bãi bỏ hệ thống tòa án của họ, và cấm các phong tục và truyền thống vốn được người Pháp tôn trọng.

     Nhưng mọi thứ trở nên tồi tệ hơn cho người Thượng sau khi chính quyền miền Nam Việt Nam sụp đổ và Cộng sản lên nắm quyền vào mùa xuân năm 1975.

    2 Tuy nhiên, hoàn cảnh của người Thượng đã thu hút rất ít sự chú ý của giới truyền thông trong những năm gần đây. Một hội nghị chuyên đề gần đây về Việt Nam được tổ chức tại tòa nhà Lưu trữ Quốc gia ở Washington, DC, đã trở thành một điểm nhấn về dân tộc thiểu số bị áp bức ở Việt Nam. Phát biểu tại sự kiện “Về thăm lại VN” ngày 14 tháng 9, Neil Nay, một người dân tộc thiểu số và là phát ngôn viên của nhóm người Thượng, đã mô tả những năm đau khổ của họ dưới sự cai trị của cộng sản. Trong bài thuyết trình của mình, Nay nói rằng ở Tây Nguyên ngày nay các nhà chức trách đang xóa bỏ một cách có hệ thống các lối sống truyền thống.

     Ông giải thích, công an và cảnh sát chìm “liên tục theo dõi chúng tôi như những tù nhân.” Đa số người Thượng không có khả năng cho con đi học. Chính phủ Việt Nam coi người Thượng là "kẻ thù lịch sử", Nay nói. Các nhà thờ bị theo dõi và thường bị cáo buộc là các tổ chức chống phá nhà nước.

     Người Thượng từ lâu đã bị mắc kẹt trong những tình huống khó khăn. Trong cuộc chiến xảy ra ở Việt Nam trong thời gian 30 năm từ 1945 đến 1975, người Thượng được tất cả các phía tuyển dụng và bị tổn thất nặng.

     Sau khi Tổng thống John Kenne-dy gửi lực lượng đặc biệt của Mỹ đến miền Nam VN với tư cách cố vấn vào tháng 5-1961, người Thượng đã hình thành lực lượng dân quân là lực lượng phản ứng nhanh chống lại Bắc Việt. Họ cũng giúp chống lại sự xâm nhập của quân đội và tiếp tế Bắc Việt tràn vào Nam Việt Nam.

     Lực lượng đặc biệt, hay là Mũ Nồi Xanh đào tạo và cung cấp vũ khí cho người Thượng, và nhiều người lính Mỹ đã phát triển mối quan hệ chặt chẽ với các bộ lạc. Theo Nay, người Thượng đã mất hơn 250.000 người trong nhiều trận chiến. Những trận chiến này diễn ra trên khắp vùng cao nguyên, và vào cuối cuộc chiến nhiều người thượng cảm thấy bị mọi phía bỏ rơi.

     Một số người đã trốn đi tỵ nạn ở Campuchia và Thái Lan và từ đó sang Mỹ. Tuy nhiên, còn những người trong số đó vẫn còn đang bị giữ lại ở Thái Lan.

     Khi Cộng sản đánh bại Nam Việt Nam và nắm quyền ở Nam Việt Nam vào mùa xuân năm 1975, cuộc sống trở nên tồi tệ hơn nhiều cho người Thượng khốn khó. Một số lãnh đạo còn sống sót đã bị xử tử. Những người khác chết trong trại cải tạo hoặc trong tù.

     Người Thượng bị mất tất cả những quyền hạn chế mà họ đã từng được hưởng trước đây. CS đã tuyển dụng một số người Thượng làm việc cho họ, hứa hẹn quyền tự chủ một khi họ giành được quyền lực. Nhưng điều đó khg bao giờ xảy ra.

     Khi hàng ngàn người Thượng phản đối đàn áp tôn giáo và tịch thu đất đai cha ông họ vào năm 2001 và 2004, quân đội và cảnh sát đã đàn áp họ khốc liệt.

     Đồng thời, người Thượng đã đạt được sức mạnh mới thông qua tôn giáo. Bắt đầu từ năm 1975, nhiều người trong số họ đã từ bỏ niềm tin vật linh và đổi sang Kitô giáo.

     Đáp lại những lo ngại quốc tế về việc liên tục bị đàn áp, chính phủ Việt Nam đã thực hiện một vài bước để giải quyết những bất bình của người Thượng.

     Vào tháng 7-2004, Thủ tướng Phạm Văn Khải đã ban hành nghị định theo đó các gia đình người Thượng có thu nhập thấp được nhận đất nông nghiệp hoặc ít nhất 200 mét vuông đất ở.

     Chính phủ cũng thông báo sẽ tạm thời đình chỉ việc di cư của người Kinh ở miền xuôi tới Tây Nguyên.

     Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, chính phủ cũng thông qua các quy định mới nhằm cho phép người Thượng có được nhiều tự do tự do tôn giáo hơn, bao gồm cả việc cấm ép buộc từ bỏ đức tin. 

     Nhưng nghiên cứu HRW tiến hành từ năm 2005 đến 2006 cho thấy các quan chức Việt Nam tiếp tục vi phạm quyền tự do tôn giáo ở một số vùng Tây Nguyên. Ví dụ, các cuộc tụ họp Kitô hữu lớn tiếp tục bị cấm đoán trừ khi do mục sư được chính thức công nhận cử hành.

     Theo một số người tị nạn, khi đối mặt với án tù và tra tấn, các mục sư Kitô giáo và những người con chiên từ chối từ bỏ tôn giáo. Một ước tính cho rằng hơn nửa triệu người Thượng trở thành tín hữu Tin Lành trong những năm qua. Số người theo Công giáo Rôma ít hơn nhiều. Tổng cộng có khoảng 12.000 người Thượng tỵ nạn đang sống ở Mỹ, hầu hết trong số họ là những tín đồ Cơ đốc. Nhiều người trong số họ đã được chào đón nồng nhiệt ở tiểu bang miền nam Hoa Kỳ Bắc Carolina.

     Nhờ những nỗ lực của Dịch vụ Gia đình Luther và Dịch vụ Xã hội Công giáo, nhiều người đã được tái định cư tại các thành phố Charlotte, Greensboro và Raleigh ở Bắc Carolina. Theo Nay, đa số người Thượng ở Mỹ đã tìm được việc làm.

     Tuy nhiên, một số người vẫn còn thất nghiệp và đang vật lộn với bệnh tật do sự đối xử khắc nghiệt dưới chế độ Cộng sản khi họ còn ở Việt Nam, Nay nói. Người Thượng không dựa vào phúc lợi xã hội trừ khi họ lần đầu tiên đặt chân đến Bắc Carolina.

     Phần lớn ở lại Bắc Carolina, một phần vì bạn bè của họ trong các Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ có trụ sở tại Fort Bragg. Và nhiều người truyền giáo người Mỹ đã sống và làm việc với người Thượng trong cuộc chiến Việt Nam là những người thuộc giáo hội Luther xuất thân từ Bắc Carolina.

     D. Southerland là cựu biên tập viên điều hành Radio Free Asia

     Phương Thảo chuyển ngữ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Mười 2018(Xem: 317)
Kính gửi: - Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Bộ chính trị - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng Tôi là công dân của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng Cộng sản. Tôi xin gửi đơn kiến nghị khẩn cấp này đến các cơ quan của Đảng một việc như sau: Sau khi phong trào cộng sản quốc tế xuống dốc không phanh và sụp đổ nghiêm trọng trên toàn thế giới, nhiều nơi, nhiều chỗ đã đi ngược lại đường lối, tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lenin hết sức đáng quan ngại.
08 Tháng Mười 2018(Xem: 322)
Muốn thiên hạ có "nghĩa" với mình khi mình chết thì tối thiểu khi còn sống cũng phải có "nghĩa" với thiên hạ. Còn khi sống mà trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra tội ác, hoặc im lặng về hùa với kẻ ác, thì đừng trách người ta vui mừng khi mình chết, bởi cái chết đồng nghĩa với việc khg còn khả năng gây ra tội ác nữa. Nhưng một xã hội mà phải chờ đến khi kẻ ác chết tự nhiên mới ngăn chặn được cái ác thì xã hội ấy là một xã hội rất tuyệt vọng. Một xã hội tốt sẽ ngăn chặn được tội ác mà không cần phải lấy mạng kẻ thủ ác (theo thủ tục xử tử hình) hoặc chờ đến khi kẻ ác chết tự nhiên.
08 Tháng Mười 2018(Xem: 364)
Ông Trần Đại Quang đã chết vào sáng 21-09-2018. Tin từ UB Bảo vệ Sức khỏe TƯ nói rất mập mờ: “Đồng chí đã mắc loại virus hiếm và độc hại, trên thế giới chưa có thuốc chữa” đưa về cái chết của ông trước khi Nhà nước tung ra cáo phó. Miếng “virus hiếm” Điều lạ là rất ít người ngạc nhiên về cái chết của ông. Lâu nay đã có vô số lời đồn đoán rằng ông đã bị vô hiệu hóa và đầu độc theo kiểu Nguyễn Bá Thanh trước đây.
08 Tháng Mười 2018(Xem: 364)
Hôm 29-8-2018, trong buổi phóng vấn dành cho hệ thống truyền hình FOX, Đại tướng hồi hưu John M. Keane, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ và hiện là Chủ tịch Viện Nghiên cứu Chiến tranh, lần nữa xác định quan điểm chiến lược của Mỹ xem “Trung Cộng là đe dọa an ninh lâu dài”. Theo tướng John M. Keane, trong giai đoạn từ khi Tập Cận Bình nắm quyền tối cao tại Trung Cộng, khả năng quốc phòng của Trung Cộng đã phát triển nhanh hơn bất cứ quốc gia nào, kể cả Mỹ. Vào năm 2017, Trung Cộng có lực lượng hải quân lớn nhất thế giới về số lượng tàu chiến với 317 chiến hạm so với 283 của Mỹ.
04 Tháng Mười 2018(Xem: 311)
Hôm thứ Ba 25/9, Tổng thống Donald Trump vừa có bài phát biểu tại Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc (UNGA). Ông Trump nhắc đến những thành tựu mà chính quyền của ông đã đạt được "chỉ trong chưa đầy hai năm", sự cần thiết phải thay đổi hệ thống thương mại thế giới và tình hình khủng hoảng ở Venezuela mà theo ông là do chủ nghĩa xã hội gây ra. "Nói một cách khác, nước Mỹ giờ đây là một quốc gia mạnh hơn, an toàn hơn và giàu có hơn khi tôi nhậm chức cách đây chưa đầy hai năm," ông Trump tự khen khi phát biểu tại phiên họp thứ 73 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.