HÃY CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI THƯỢNG TIN LÀNH BỊ LÃNG QUÊN… -DAN SOUTHERLAND.

11 Tháng Mười Một 20189:00 CH(Xem: 558)
HÃY CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI THƯỢNG TIN LÀNH BỊ LÃNG QUÊN… -DAN SOUTHERLAND.

Nguyên tiêu đề: Hãy cầu nguyện cho người Thượng bị lãng quên của Việt Nam.

     Sự đàn áp của chế độ Cộng sản đối với dân tộc thiểu số ủng hộ Hoa Kỳ trong Chiến tranh VN phần lớn là không thể nhận thấy được nhưng đang bắt đầu được biết đến

     Hãy bắt đầu với một lời thú nhận. Khi tôi là một phóng viên chiến tranh ở Việt Nam vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, tôi đã không ủng hộ “báo chí nhảy dù.” Đó là chuyến đi thực tế vào vùng chiến bằng trực thăng và ở lại đó một hoặc hai ngày để cảm nhận tình hình và rồi quay trở lại Sài Gòn để viết một bài báo.

     Nhưng ở một khu vực ở Việt Nam - vùng Tây Nguyên có ý nghĩa chiến lược giáp biên giới với Campuchia và Lào và nằm ở phía bắc của đồng bằng sông Cửu Long - tôi vào và ra khỏi đó khá nhanh.

     Tôi có thể nhớ bay tới thành phố cao nguyên Kontum với một đồng nghiệp khi thành phố đó phải hứng chịu pháo và hỏa tiễn của Bắc Việt vào mùa xuân năm 1972. Hai chúng tôi quan sát nhanh, nói chuyện với một cố vấn người Mỹ và vài người binh lính Nam Việt Nam và đi về.

     Thực tế là chúng tôi chẳng thấy người dân tộc thiểu số trong vùng, kể cả người Thượng ở Kontum, mặc dù họ đã từng sống rất nhiều ở đó. Nhìn lại điều đó, không phải ít ra tôi nên bắt đầu đặt câu hỏi, "Ủa, người Thượng ở đâu?"

     Hơn 40 năm sau, người ta có thể đặt ra cùng một câu hỏi. Người Thượng, từng là một số đồng minh trung thành nhất của Quân đội Mỹ trong Chiến tranh VN, hiện đang bị che giấu và cố sống sót dưới sự đàn áp. Cuộc sống của họ bị chi phối bởi những người Kinh đã chiếm phần lớn đất đai của tổ tiên họ.

     Đồng thời, những người Thượng đã trốn sang Hoa Kỳ đang ngày càng đứng lên để kể câu chuyện về vùng đất bị mất của họ và những thách thức mà những người ở lại phải đối đầu. 

     Vào giữa những năm 1950-1960 và đầu những năm 1970, những người tỵ nạn Bắc Việt, người nghèo miền Nam Việt Nam từ các vùng duyên hải, và những người thiểu số khác đã chuyển đến vùng cao nguyên để tìm đất đai và làm việc. Nhiều khi họ chiếm đất tổ tiên của người Thượng mà không bồi thường. Những người ngoài này nhanh chóng chiếm lĩnh cả khu vực.

     Trong thời kỳ thuộc địa ở Việt Nam, người Pháp đã sử dụng thuật ngữ người Thượng, hay “người dân miền núi”, để mô tả các bộ tộc khác nhau sống ở vùng cao nguyên miền Nam Việt Nam. Michael Benge là một chuyên gia người Mỹ về người Thượng đã làm việc với họ sáu năm trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Benge, người đầu tiên làm việc cho Dịch vụ Tự nguyện Quốc tế (IVS) và sau đó cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (US AID), lưu ý rằng các bộ tộc miền núi của VN không phải là một.

     Các bộ tộc miền núi khác nhau không có tên chung nào khác ngoài cái tên người Thượng do người Pháp đặt ra và sau đó được người Mỹ chấp nhận, Benge nói. Họ chủ yếu là các nhánh người Malayo-Polynesia, Mon-Khmer, và Trung-Tây Tạng, ông nói.

     Nếu người Thượng tự chọn một tên cho mình, có lẽ họ sẽ thích gọi là Anak Cu Chiang, hoặc "con của núi rừng", theo Benge.

     Vào thời Pháp, người Thượng được hưởng quyền tự chủ đáng kể, Benge người đến Việt Nam năm 1963 cho biết. Người Pháp đã bổ nhiệm người Thượng vào các chức vụ chính thức từ cấp tỉnh xuống cấp thôn. Nhưng người Thượng không thể có được vị trí cao hơn trong hệ thống của người Pháp

     Sau khi nắm quyền lực, Nam VN có khuynh hướng coi thường người Thượng như người nguyên thuỷ, gọi họ là Mọi, hay những kẻ man rợ. Những căng thẳng như vậy giữa người Việt và người Thượng đã gia tăng trong nhiều năm.

     Năm 1964, một số đơn vị quân đội người Thượng đã khởi xướng một cuộc nổi loạn chống lại chính quyền Nam Việt Nam của Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Chính quyền Sài Gòn đã buộc người Thượng phải lấy tên người Kinh, bãi bỏ hệ thống tòa án của họ, và cấm các phong tục và truyền thống vốn được người Pháp tôn trọng.

     Nhưng mọi thứ trở nên tồi tệ hơn cho người Thượng sau khi chính quyền miền Nam Việt Nam sụp đổ và Cộng sản lên nắm quyền vào mùa xuân năm 1975.

    2 Tuy nhiên, hoàn cảnh của người Thượng đã thu hút rất ít sự chú ý của giới truyền thông trong những năm gần đây. Một hội nghị chuyên đề gần đây về Việt Nam được tổ chức tại tòa nhà Lưu trữ Quốc gia ở Washington, DC, đã trở thành một điểm nhấn về dân tộc thiểu số bị áp bức ở Việt Nam. Phát biểu tại sự kiện “Về thăm lại VN” ngày 14 tháng 9, Neil Nay, một người dân tộc thiểu số và là phát ngôn viên của nhóm người Thượng, đã mô tả những năm đau khổ của họ dưới sự cai trị của cộng sản. Trong bài thuyết trình của mình, Nay nói rằng ở Tây Nguyên ngày nay các nhà chức trách đang xóa bỏ một cách có hệ thống các lối sống truyền thống.

     Ông giải thích, công an và cảnh sát chìm “liên tục theo dõi chúng tôi như những tù nhân.” Đa số người Thượng không có khả năng cho con đi học. Chính phủ Việt Nam coi người Thượng là "kẻ thù lịch sử", Nay nói. Các nhà thờ bị theo dõi và thường bị cáo buộc là các tổ chức chống phá nhà nước.

     Người Thượng từ lâu đã bị mắc kẹt trong những tình huống khó khăn. Trong cuộc chiến xảy ra ở Việt Nam trong thời gian 30 năm từ 1945 đến 1975, người Thượng được tất cả các phía tuyển dụng và bị tổn thất nặng.

     Sau khi Tổng thống John Kenne-dy gửi lực lượng đặc biệt của Mỹ đến miền Nam VN với tư cách cố vấn vào tháng 5-1961, người Thượng đã hình thành lực lượng dân quân là lực lượng phản ứng nhanh chống lại Bắc Việt. Họ cũng giúp chống lại sự xâm nhập của quân đội và tiếp tế Bắc Việt tràn vào Nam Việt Nam.

     Lực lượng đặc biệt, hay là Mũ Nồi Xanh đào tạo và cung cấp vũ khí cho người Thượng, và nhiều người lính Mỹ đã phát triển mối quan hệ chặt chẽ với các bộ lạc. Theo Nay, người Thượng đã mất hơn 250.000 người trong nhiều trận chiến. Những trận chiến này diễn ra trên khắp vùng cao nguyên, và vào cuối cuộc chiến nhiều người thượng cảm thấy bị mọi phía bỏ rơi.

     Một số người đã trốn đi tỵ nạn ở Campuchia và Thái Lan và từ đó sang Mỹ. Tuy nhiên, còn những người trong số đó vẫn còn đang bị giữ lại ở Thái Lan.

     Khi Cộng sản đánh bại Nam Việt Nam và nắm quyền ở Nam Việt Nam vào mùa xuân năm 1975, cuộc sống trở nên tồi tệ hơn nhiều cho người Thượng khốn khó. Một số lãnh đạo còn sống sót đã bị xử tử. Những người khác chết trong trại cải tạo hoặc trong tù.

     Người Thượng bị mất tất cả những quyền hạn chế mà họ đã từng được hưởng trước đây. CS đã tuyển dụng một số người Thượng làm việc cho họ, hứa hẹn quyền tự chủ một khi họ giành được quyền lực. Nhưng điều đó khg bao giờ xảy ra.

     Khi hàng ngàn người Thượng phản đối đàn áp tôn giáo và tịch thu đất đai cha ông họ vào năm 2001 và 2004, quân đội và cảnh sát đã đàn áp họ khốc liệt.

     Đồng thời, người Thượng đã đạt được sức mạnh mới thông qua tôn giáo. Bắt đầu từ năm 1975, nhiều người trong số họ đã từ bỏ niềm tin vật linh và đổi sang Kitô giáo.

     Đáp lại những lo ngại quốc tế về việc liên tục bị đàn áp, chính phủ Việt Nam đã thực hiện một vài bước để giải quyết những bất bình của người Thượng.

     Vào tháng 7-2004, Thủ tướng Phạm Văn Khải đã ban hành nghị định theo đó các gia đình người Thượng có thu nhập thấp được nhận đất nông nghiệp hoặc ít nhất 200 mét vuông đất ở.

     Chính phủ cũng thông báo sẽ tạm thời đình chỉ việc di cư của người Kinh ở miền xuôi tới Tây Nguyên.

     Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, chính phủ cũng thông qua các quy định mới nhằm cho phép người Thượng có được nhiều tự do tự do tôn giáo hơn, bao gồm cả việc cấm ép buộc từ bỏ đức tin. 

     Nhưng nghiên cứu HRW tiến hành từ năm 2005 đến 2006 cho thấy các quan chức Việt Nam tiếp tục vi phạm quyền tự do tôn giáo ở một số vùng Tây Nguyên. Ví dụ, các cuộc tụ họp Kitô hữu lớn tiếp tục bị cấm đoán trừ khi do mục sư được chính thức công nhận cử hành.

     Theo một số người tị nạn, khi đối mặt với án tù và tra tấn, các mục sư Kitô giáo và những người con chiên từ chối từ bỏ tôn giáo. Một ước tính cho rằng hơn nửa triệu người Thượng trở thành tín hữu Tin Lành trong những năm qua. Số người theo Công giáo Rôma ít hơn nhiều. Tổng cộng có khoảng 12.000 người Thượng tỵ nạn đang sống ở Mỹ, hầu hết trong số họ là những tín đồ Cơ đốc. Nhiều người trong số họ đã được chào đón nồng nhiệt ở tiểu bang miền nam Hoa Kỳ Bắc Carolina.

     Nhờ những nỗ lực của Dịch vụ Gia đình Luther và Dịch vụ Xã hội Công giáo, nhiều người đã được tái định cư tại các thành phố Charlotte, Greensboro và Raleigh ở Bắc Carolina. Theo Nay, đa số người Thượng ở Mỹ đã tìm được việc làm.

     Tuy nhiên, một số người vẫn còn thất nghiệp và đang vật lộn với bệnh tật do sự đối xử khắc nghiệt dưới chế độ Cộng sản khi họ còn ở Việt Nam, Nay nói. Người Thượng không dựa vào phúc lợi xã hội trừ khi họ lần đầu tiên đặt chân đến Bắc Carolina.

     Phần lớn ở lại Bắc Carolina, một phần vì bạn bè của họ trong các Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ có trụ sở tại Fort Bragg. Và nhiều người truyền giáo người Mỹ đã sống và làm việc với người Thượng trong cuộc chiến Việt Nam là những người thuộc giáo hội Luther xuất thân từ Bắc Carolina.

     D. Southerland là cựu biên tập viên điều hành Radio Free Asia

     Phương Thảo chuyển ngữ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Bảy 2012(Xem: 10229)
Tin Úc Châu: Sáng thứ sáu 24/02/2012 vào lúc 11 giờ 30, Khối 8406 đã được mời và ra điều trần trước tiểu Ủy ban Nhân Quyền thuộc Quốc Hội Liên Bang Úc. Tiểu Ủy Ban do Dân biểu Liên Bang ông Laurie Ferguson chủ tọa, cùng Dân biểu Liên Bang ông Philip Ruddock và Thượng Nghị Sỹ Liên Bang ông Michael Danby. Phía Khối 8406 có Tiến sỹ Lê Kim Song từ Tây Úc, ông Phạm Anh Tuấn từ NSW, cô Dáng Thơ, ông Châu Xuân Nguyễn, ông Trần Đông và ông Nguyễn Quang Duy ở Victoria...
05 Tháng Bảy 2012(Xem: 10600)
Sáng 20/01/ 2012, phái đoàn bốn thượng nghị sĩ Mỹ đã gặp ba nhân vật đấu tranh dân chủ và nhân quyền Việt Nam tại Hà Nội trong chuyến công du Đông Nam Á. Cuộc gặp này diễn ra trước khi các vị khách cao cấp của lập pháp Mỹ rời đi Miến Điện và sau những hội đàm cao cấp với chính giới tại Việt Nam.Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, luật sư Lê Quốc Quân và luật sư Nguyễn Văn Đài được bốn thượng nghị sĩ Hoa Kỳ gồm các ông John McCain, Joseph Lieberman, Sheldon Whitehouse và bà Kelly Ayotte chào đón tại khách sạn Metropole...
04 Tháng Bảy 2012(Xem: 10337)
Khối 8406 đã được thành lập vào ngày 8-4-2006 là ngày mà bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006 được công bố rộng rãi (Tuyên Ngôn 8406). Sáu năm qua, trải qua chặng đường xây dựng và phát triển với nhiều hy sinh gian khổ của mình, Khối 8406 đã luôn nỗ lực trung thành với tinh thần và mục tiêu mà bản Tuyên Ngôn 8406 đã vạch ra là: đấu tranh giành lấy các quyền tự do dân chủ cho Việt Nam bằng con đường bất bạo động.....
30 Tháng Sáu 2012(Xem: 17654)
T hư mời Tham dự Đại Hội Liên Kết Đấu Tranh Dân Chủ Nhân Quyền cho Việt Nam Kính gửi: --------------------------------------------------------------------------------------------------- --------------------------------------------------------------------------------------------------- Hoa Kỳ, ngày 30/6/2012 Kính thưa Quý Vị, Khối 8406 tại Hoa Kỳ liên kết với một số đoàn thể đấu tranh Tự do Dân chủ cho Việt Nam sẽ tổ chức Đại Hội Liên Kết Đấu Tranh Dân Chủ Nhân Quyền cho Việt Nam Tại Unify Event Center, 765 Story Rd, San Jose, CA, 95122, USA. Phone: (408) 891-3630 Từ 1:00 pm đến 5:30 pm, thứ Bảy ngày 11/8/2012.
30 Tháng Sáu 2012(Xem: 16687)
T hư mời Tham dự Đại Hội Liên Kết Đấu Tranh Dân Chủ Nhân Quyền cho Việt Nam Kính gửi: --------------------------------------------------------------------------------------------------- --------------------------------------------------------------------------------------------------- Hoa Kỳ, ngày 30/6/2012 Kính thưa Quý Vị, Khối 8406 tại Hoa Kỳ liên kết với một số đoàn thể đấu tranh Tự do Dân chủ cho Việt Nam sẽ tổ chức Đại Hội Liên Kết Đấu Tranh Dân Chủ Nhân Quyền cho Việt Nam Tại Unify Event Center, 765 Story Rd, San Jose, CA, 95122, USA. Phone: (408) 891-3630 Từ 1:00 pm đến 5:30 pm, thứ Bảy ngày 11/8/2012.